Tùy Bút

warning: Creating default object from empty value in /home/nuoctroi_2014/nuoctroi.org/modules/taxonomy/taxonomy.pages.inc on line 33.

Hơn 400 Truyện Ngắn Tham Gia Cuộc Thi Viết Truyện Ngắn chủ đề: “Viết Cho Niềm Tin” do “Sống Đạo Online” và Đặc San Hướng Đi Tổ Chức

Danh Sách Và Những Bài Gởi Thi Viết Truyện Ngắn Cho www.songdaoonline.com  

CUỘC THI VIẾT TRUYỆN NGẮN CƠ ĐỐC - Do Đặc san Hướng Đi tổ chức  

TRĂNG TRÔI TRÊN SÔNG - Diên Vĩ

 
 

Em gánh đôi thùng xuống dòng Vu Gia múc nước. Những giọt mưa ngâu rơi nhẹ xuống dòng sông quê như những giọt nước mắt em. Mỗi ngày gánh nước leo lên những con dốc dựng đứng, chân em mỏi rã rời, đôi vai tê buốt. Em phải gánh mỗi ngày hơn chục đôi nước để phục vụ cho việc ăn uống của sáu người và việc tắm giặt của người mợ hà khắc. Mợ Ba nhất quyết không chịu mang đồ ra sông giặt như mấy người phụ nữ trong thôn. Từ năm mười tuổi, em đã làm việc quần quật suốt ngày từ sáng sớm đến tối mịt. Hết đi chợ, nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa lại ra sông gánh nước. Nỗi nhọc nhằn về thể xác không là gì so với nỗi đau tinh thần. Cậu mợ muốn đẩy em ra khỏi nhà để sau này hưởng trọn gia sản của mẹ. Chỉ những lúc vô rừng sâu đi củi cùng đám bạn, em mới được là chính em. Em thích đi củi lắm vì tấm thân nhỏ bé chịu vất vả, mang vác nặng nề nhưng tinh thần nhẹ nhàng, thoải mái. Dù đôi chân mỏi nhừ vì trèo đèo lội suối, dù cặp giò bị gai cào rướm máu, miễn được tung tăng cười nói cùng bạn bè vài ba ngày, khỏi nghe những lời cay độc của cậu mợ:

- Tự nhiên rước người dưng về để hưởng gia tài. Chị Hai hồi đó chướng thiệt, rinh cái của nợ ni về…

Mỗi lần cậu mợ chì chiết, mẹ em chỉ im lặng cúi đầu. Em biết mẹ thương em nhưng tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào máu thịt của nhiều người ở vùng quê này. Lúc nào mẹ cũng nhịn cậu. Em tủi thân rưng rưng nước mắt. Mẹ đi suốt ngày, hết chữa bịnh cho bà con trong xã lại vô chùa, đâu biết em ở nhà phải chịu đựng sự hành hạ cay nghiệt của cậu mợ. Má ruột sống cách nhà em chỉ một đám ruộng nhưng mỗi lần đi ngang, em không dám nhìn vì sợ mẹ nuôi phiền lòng.

Ngày đó, ba em mất sớm. Má em một nách hai con nhỏ lại đau ốm hoài.  Cô láng giềng làm y tá thương tình giúp đỡ má, chữa khỏi căn bịnh trầm kha. Mỗi lần qua nhà, cô y tá thường bồng ẵm, nựng nịu em. Cô không có chồng con nhưng thừa tiền. Má em thì “nghèo như chuột nhà thờ”, không có một đồng trả tiền thuốc thang cho cô.

- Cảm ơn cô đã tận tâm chữa trị cho tui hết bịnh. Đợi hai đứa nhỏ lớn thêm vài tuổi, tui đi làm thuê làm mướn trả tiền thuốc cho cô.

Sau một lúc ngập ngừng, cô y tá nói:

LỐI ĐI NGAY DƯỚI CHÂN MÌNH - Thiên Quốc

 
 

“Bố ơi! Đừng… Bố ơi!!!”

Nó đổ gục xuống và không còn biết gì nữa. Trong văng vẳng thẳm sâu tận cùng của chơi vơi, của hư vô, nó vẫn nghe âm thanh xình xịch, rầm rầm phát ra từ những chiếc bánh sắt xe lửa nghiến trên đường ray như nghiến vào bầu trời màu hồng, xé nát tuổi thơ lên mười của nó. Đó là lần cuối cùng nó nhìn thấy bố khi ông quay lại gỡ cái bánh xe đạp bị kẹt lại giữa đường ray cho hai mẹ con nhà kia. Sau nầy nó không thấy mặt ông lần nào nữa.

Mẹ nó cũng gục xuống khi nghe người ta báo tin dữ rồi… bà bỏ lại bốn anh em nhà nó đi bặt tăm trong một buổi chiều vần vũ mây đen. Khi đó nó mười bốn tuổi.

Bố chết. Mẹ đi mất. Nó lớn nhất nhà. Ở cái tuổi mà con cái người ta ăn ngon mặc đẹp thì nó bị đẩy ra đường:

“Muốn mấy em mi có cơm ăn thì tự mà đi kiếm tiền, thằng khắc cha khắc mẹ kia.”

ÔNG TRỜI CÓ MẮT NHƯNG CÒN ĐỢI - Hải Yến

 

- “Phập… Á… Cứu… Tay của tôi…”

Nó đứng nhìn kẻ kêu cứu với đôi mắt mờ đục, tay vẫn còn cầm cây mã tấu bén ngót, nó không định giết người mà chỉ chém thị uy thôi. Cánh tay của người thanh niên kia đã đứt lìa, chỉ còn lại chút ít da giữ cho nó khỏi rớt xuống đất, máu chảy xối xả trên đất và nỗi đau quằn quại của người kia dường như làm cho nó sực tỉnh rượu. Nó bỏ chạy. Người dân xung quanh quán nhậu đó lập tức đưa người bị chém đi bệnh viện và báo công an. Sự việc chẳng có gì to tát cả, nó đang ngồi nhậu cùng tụi bạn thì nhóm thanh niên này vào sau, thấy bàn tụi nó toàn tay anh chị xâm mình nên bước qua mời bia. Nó không uống, thằng đó mất mặt, lấy luôn ly bia đập lên đầu nó,  điên tiết nó chạy ra xe rút cây mã tấu bén ngót vào và chém thẳng tay. Chuyện chỉ có thế mà một người phải mất cánh tay, người kia vào vòng tù tội.

Nó biết tội mình nên chạy một mạch lên công an tự thú, nó bị tạm giam chờ tòa xét xử. Những ngày nó bị bắt tạm giam, cha mẹ nó phải chạy ngược chạy xuôi để nuôi người bị chém rồi phải lạy lục, đền bù để người ta rút đơn kiện mà làm giấy bãi nại cho nó nhưng luật pháp thì phải chấp hành, kẻ có tội phải được xử để răn đe những người khác nữa.

Ba tháng trong trại tạm giam thật khủng khiếp với một tay công tử bột như nó, biết làm sao được khi chính mình đã tự tay bỏ đi quyền công dân. Trong thời gian nó bị tam giam thì người vợ bỏ đứa con hai tuổi lại cho nhà nội rồi bỏ đi. Nó ngán ngẩm sự đời, đôi lúc lại nghĩ đến cái chết vì cái án tù từ ba đến mười năm đang chờ  trước mặt. Từ một thanh niên vạm vỡ hơn tám mươi ký, chỉ sau ba tháng nó còn năm mươi ký lô. Người nó chẳng còn sức sống, hai chân bắt đầu yếu dần, sau đó thì liệt luôn, phải cần có người dìu hai bên khi cần làm một việc gì đó.

Nó được đưa đến bệnh viện với sự túc trực của những người cảnh vụ, tay nó bị còng vào thành giường để không có cơ hội trốn thoát. Bác sĩ nói nó bị thiếu kali trầm trọng chứ không tìm ra bệnh, với hai chân như thế thì nó chẳng thể trốn đi đâu được, nó được đưa về địa phương quản thúc để trị bệnh, sau đó sẽ phải hầu tòa và chịu sự trừng trị của pháp luật.

Nó về ở cùng cha mẹ trên một ngọn núi, nương tựa nơi sức tàn của người cha ngày ngày phải đi biển buông câu tìm cá. Nó hận, giận mình ngu dại. Người xung quanh nhìn nó với con mắt dè chừng, người thì “đáng đời”, bảo thật là Trời có mắt...

Một buổi chiều nhạt nắng, nó ngồi bên nhà của người chị em kết nghĩa, thầm trách con người với số phận đẩy đưa thì có vài người bên nhà thờ Tin Lành xuống thăm gia đình chị. Họ nói chuyện với nó, hỏi thăm tại sao chân nó bị như vậy...  Cái cách quan tâm và nói chuyện nhẹ nhàng, không nhìn nó với ánh mắt khinh khi như người xung quanh như khơi đúng nỗi niềm làm nó kể hết ra nỗi lòng của mình cho những người xa lạ đó. Họ có vẻ cảm thông những hành động nông nổi của nó, rồi họ nói về tình yêu thương của Thượng Đế cho nó nghe, họ nói về bản tính tội lỗi đã làm cho con người xa cách Thượng Đế và Chúa Giê-xu là chiếc cầu nối duy nhất để đưa con người đến gần Thượng Đế như thế nào. Nó lắng nghe và thấy đúng. Cuối cùng nó đồng ý với lời mời đến dự truyền giảng và nó cũng được tặng những quyển sách nhỏ để đọc trong lúc buồn chán này.

Sau đó những anh chị mới quen ấy đến thăm nó thường xuyên và chở nó đi nhà thờ để nghe truyền giảng. Cuối buổi, mục sư kêu gọi: “con người chúng ta chẳng thể biết trước được ngày mai mình sẽ như thế nào, nếu như hôm nay quý vị từ chối lời mời gọi của Thượng Đế dành cho mình thì quý vị có chắc là lần sau mình có cơ hội?” Nó nghe và cảm thấy chạm lòng cách kỳ lạ. Nó đã chẳng thể biết được cuộc đời mình phải bị tù tội, phải bị tàn tật như bây giờ và biết đâu có thể đây là lần cuối cùng nó được nghe những điều này. Nếu từ chối thì thật là sẽ có lần sau hay sẽ chẳng còn cơ hội? Nó suy nghĩ và quyết định nhờ anh chị đó kè lên để tiếp nhận Chúa làm Chúa, làm chủ đời sống mình với tấm lòng nhẹ nhàng thanh thản. 

Nó bắt đầu đọc Kinh Thánh, đi nhóm cùng những gương mặt xa lạ mà giờ đã thân quen. Mọi người nhìn nó với ánh mắt chia sẻ, không kì thị và nó nhận sự giúp đỡ từ sự yêu thương đó với tấm lòng biết ơn sâu sắc. Nó cảm ơn Chúa đã chẳng bỏ đi một cuộc đời hư hỏng, nó biết ơn Chúa đã đợi nó quay đầu, không chìm sâu vào tội lỗi nữa, nó chấp nhận cuộc sống trước mắt với một tâm trạng thoải mái vì biết rằng mình phải trả giá theo luật pháp của loài người nhưng về phần tâm linh thì nó tin rằng Chúa đã tha thứ cho tội lỗi của nó.

Nó tập tành cầu nguyện. Nó cầu xin Chúa cho nó được lành để những người trong gia đình nó nhìn thấy quyền năng của Chúa và họ quay về cùng Chúa yêu thương như nó. Những ngày chân nó bị liệt, ba mẹ nó đã cố vét lấy những đồng tiền cuối cùng để mong bác sĩ có thể tìm ra chứng bệnh và chữa khỏi cho nó nhưng vô ích. Hằng đêm, nó đổ nước mắt ra cầu nguyện cùng Chúa: 

- Chúa ôi! Ngài là Ông Trời, là Đấng lớn nhất trong cõi đời này. Xin hãy cứu lấy thân thể què quặt của con, cũng bởi tình yêu Ngài đối với con và cũng bởi những linh hồn còn lại trong nhà con nữa, Chúa ôi.

NHƯ DÒNG SÔNG TRÔI – Diên Vĩ

 

Ngày đó, cha hắn là ấp trưởng ở một vùng quê thuộc tỉnh Quảng Nam. Cuộc sống gia đình bình yên, hạnh phúc đến năm hắn lên sáu. Ba hắn đi học tập cải tạo. Mái ấm gia đình bị giật mìn cháy tan hoang. Mẹ hắn cùng năm đứa con thơ dại bị đẩy vô núi. Chị lớn hắn vừa tròn mười một còn em út chưa được một tuổi.

Một buổi chiều mưa, mẹ nấu chè đậu xanh cho mấy chị em ăn rồi bảo đi ngủ sớm. Nửa đêm, chị em hắn giựt mình thức giấc vì tiếng khóc ngằn ngặt của thằng Út. Em bé khát sữa mà không thấy mẹ đâu cả. Chị em hắn và bà con cô bác kéo nhau đi tìm suốt đêm. Hắn cũng cầm chiếc đèn dầu gọi “mẹ ơi, mẹ ơi…” trong vô vọng. Hắn nghe bà con cô bác xầm xì: “Chắc mẹ tụi nhỏ bị cọp vồ rồi. Tội nghiệp…”

Rồi một buổi trưa, người ta tìm thấy xác phụ nữ trôi sông. Chị hắn nhận ra chính là người mẹ hiền lành của bọn hắn. Bà con cô bác thương tình, giúp đỡ chôn cất người mẹ đáng thương. Thằng Út được nuôi bằng nước cơm pha đường, thiếu bàn tay chăm sóc của mẹ rồi cũng theo mẹ ra đi vào một đêm mưa. Một năm sau, ba hắn trở về với chị em hắn vì mắc bịnh sơ gan cổ trướng nặng, chẳng biết lúc nào sẽ về bên kia thế giới.

**

NHỮNG HỒI CHUÔNG GIÁO-ĐƯỜNG - Nắng Hạ

 
 

Thật ra thì tôi không có anh trai, vì tôi là trưởng nam trong gia-đình và chỉ có hai bà chị, nhưng khi tôi mới bắt đầu học cấp hai thì đã có nhiều anh trong trường muốn làm bạn với tôi. Đa số những người ấy thường lớn hơn tôi khoảng một vài tuổi, có nghĩa là họ học hơn tôi khoảng một vài lớp. Lý do chính không phải là vì tôi dễ thương hay hiền lành, mà chỉ vì tôi có một bà chị xinh đẹp vẫn thường đi bộ đến trường mỗi ngày với mình. Bà chị mặc dù lớn hơn tôi hai tuổi và rất thông-minh, nhưng vì thị-lực kém, nên đành phải chấp-nhận học bằng lớp với tôi. Dù vậy, khi đeo kiếng vào thì chị ấy vẫn xinh đẹp như một nàng tiên và khiến cho nhiều nam-sinh trong trường phải xao-xuyến. Có một người thầy đã từng nói vui với chúng tôi rằng: “Hầu hết những người cận-thị đều thông-minh”, có lẽ là vì họ chịu khó đọc nhiều sách quá, cho nên phải chấp-nhận đeo mắt kiếng. Còn tôi thì không bị cận-thị do ham chơi suốt ngày với bạn-bè trong xóm, cho nên học-lực của tôi cũng không thể nào sánh được với những người “bốn mắt” chăng? Dù vậy, nhờ vẻ xinh-đẹp của bà chị mà đã có rất nhiều anh trong trường muốn gần-gũi và trò chuyện với tôi. Tôi nói “rất nhiều” không phải là phóng đại đâu nhé, bởi vì nói chung là có tới khoảng năm, bảy anh lận, đó là chưa kể tới những anh mà tôi không biết. Thậm chí có những đứa bạn cùng lớp mà lớn hơn tôi hai tuổi cũng tìm cách kết thân và vui-vẻ với tôi, bởi vì bà chị rất dễ thương của tôi.

Ngày đó thì tôi không quan-tâm cho lắm tới nhan-sắc của bà chị tôi, bởi vì hai chị em sống ở bên cạnh nhau từ nhỏ cho tới lớn, nên tôi thấy cái gì ở nơi chị ấy cũng bình-thường. Hơn nữa, tôi cũng chưa biết yêu, tôi chưa bao giờ nhìn nhận một cô gái nào là xinh-đẹp trên thế-giới nầy. Nhiều năm về sau thì tôi mới nghe nói rằng bà chị tôi được đánh giá là một trong những nữ-sinh đẹp và thông-minh nhất trường. Chính vì vậy mà tôi đã “may-mắn” được nhiều anh nam-sinh trong trường “tự-nguyện” cưng chiều mình như một người em vậy.

Những anh ấy bao gồm đủ thành-phần và tính-cách ở trong trường: có người thì học giỏi, có người thì can-đảm, có người là văn-sĩ, có người thì ngang-tàng nhưng cũng đang “tu tâm dưỡng tánh”, vì nếu không thì làm sao có thể làm cho người đẹp chú ý được?

ÁNH SAO CÔ ĐƠN - Diên Vĩ

Xin đọc trọn bài dưới đây:

NHƯ DÒNG SÔNG TRÔI – Diên Vĩ

Ngày đó, cha hắn là ấp trưởng ở một vùng quê thuộc tỉnh Quảng Nam. Cuộc sống gia đình bình yên, hạnh phúc đến năm hắn lên sáu. Ba hắn đi học tập cải tạo. Mái ấm gia đình bị giật mìn cháy tan hoang. Mẹ hắn cùng năm đứa con thơ dại bị đẩy vô núi. Chị lớn hắn vừa tròn mười một còn em út chưa được một tuổi.

Một buổi chiều mưa, mẹ nấu chè đậu xanh cho mấy chị em ăn rồi bảo đi ngủ sớm. Nửa đêm, chị em hắn giựt mình thức giấc vì tiếng khóc ngằn ngặt của thằng Út. Em bé khát sữa mà không thấy mẹ đâu cả. Chị em hắn và bà con cô bác kéo nhau đi tìm suốt đêm. Hắn cũng cầm chiếc đèn dầu gọi “mẹ ơi, mẹ ơi…” trong vô vọng. Hắn nghe bà con cô bác xầm xì: “Chắc mẹ tụi nhỏ bị cọp vồ rồi. Tội nghiệp…”

Rồi một buổi trưa, người ta tìm thấy xác phụ nữ trôi sông. Chị hắn nhận ra chính là người mẹ hiền lành của bọn hắn. Bà con cô bác thương tình, giúp đỡ chôn cất người mẹ đáng thương. Thằng Út được nuôi bằng nước cơm pha đường, thiếu bàn tay chăm sóc của mẹ rồi cũng theo mẹ ra đi vào một đêm mưa. Một năm sau, ba hắn trở về với chị em hắn vì mắc bịnh sơ gan cổ trướng nặng, chẳng biết lúc nào sẽ về bên kia thế giới.

**

NHỮNG HỒI CHUÔNG GIÁO-ĐƯỜNG - Nắng Hạ

Thật ra thì tôi không có anh trai, vì tôi là trưởng nam trong gia-đình và chỉ có hai bà chị, nhưng khi tôi mới bắt đầu học cấp hai thì đã có nhiều anh trong trường muốn làm bạn với tôi. Đa số những người ấy thường lớn hơn tôi khoảng một vài tuổi, có nghĩa là họ học hơn tôi khoảng một vài lớp. Lý do chính không phải là vì tôi dễ thương hay hiền lành, mà chỉ vì tôi có một bà chị xinh đẹp vẫn thường đi bộ đến trường mỗi ngày với mình.

Bà chị mặc dù lớn hơn tôi hai tuổi và rất thông-minh, nhưng vì thị-lực kém, nên đành phải chấp-nhận học bằng lớp với tôi. Dù vậy, khi đeo kiếng vào thì chị ấy vẫn xinh đẹp như một nàng tiên và khiến cho nhiều nam-sinh trong trường phải xao-xuyến.

Có một người thầy đã từng nói vui với chúng tôi rằng: “Hầu hết những người cận-thị đều thông-minh”, có lẽ là vì họ chịu khó đọc nhiều sách quá, cho nên phải chấp-nhận đeo mắt kiếng. Còn tôi thì không bị cận-thị do ham chơi suốt ngày với bạn-bè trong xóm, cho nên học-lực của tôi cũng không thể nào sánh được với những người “bốn mắt” chăng? Dù vậy, nhờ vẻ xinh-đẹp của bà chị mà đã có rất nhiều anh trong trường muốn gần-gũi và trò chuyện với tôi. Tôi nói “rất nhiều” không phải là phóng đại đâu nhé, bởi vì nói chung là có tới khoảng năm, bảy anh lận, đó là chưa kể tới những anh mà tôi không biết. Thậm chí có những đứa bạn cùng lớp mà lớn hơn tôi hai tuổi cũng tìm cách kết thân và vui-vẻ với tôi, bởi vì bà chị rất dễ thương của tôi.

Ngày đó thì tôi không quan-tâm cho lắm tới nhan-sắc của bà chị tôi, bởi vì hai chị em sống ở bên cạnh nhau từ nhỏ cho tới lớn, nên tôi thấy cái gì ở nơi chị ấy cũng bình-thường. Hơn nữa, tôi cũng chưa biết yêu, tôi chưa bao giờ nhìn nhận một cô gái nào là xinh-đẹp trên thế-giới nầy. Nhiều năm về sau thì tôi mới nghe nói rằng bà chị tôi được đánh giá là một trong những nữ-sinh đẹp và thông-minh nhất trường. Chính vì vậy mà tôi đã “may-mắn” được nhiều anh nam-sinh trong trường “tự-nguyện” cưng chiều mình như một người em vậy.

Những anh ấy bao gồm đủ thành-phần và tính-cách ở trong trường: có người thì học giỏi, có người thì can-đảm, có người là văn-sĩ, có người thì ngang-tàng nhưng cũng đang “tu tâm dưỡng tánh”, vì nếu không thì làm sao có thể làm cho người đẹp chú ý được?

Một trong những nam-sinh đó cũng ở gần nhà chúng tôi, trong một trại lính dành cho các gia-đình sĩ-quan, và cứ mỗi chiều thì anh lại đạp xe đến nhà chúng tôi để cùng đi bộ đến trường cho vui. Cũng có những lúc chúng tôi đi bộ, còn anh cứ xách xe chạy vòng vòng, và cuối-cùng thì anh cũng đến trường chung với chúng tôi. Anh thường hay đội chiếc nón màu hoa dù rộng vành, một chiếc nón của binh-chủng nhảy dù, với nụ cười thường xuyên nở trên môi. Anh nói với tôi rằng đã có một vài lần anh bị cảnh-sát cảnh-cáo là sẽ tịch-thu nếu anh còn tiếp-tục đội chiếc nón đó, bởi vì nó là nón thứ thiệt. Nhưng với bản chất ngang-tàng thì anh vẫn cứ đội, và vì cũng đoán ra rằng anh là con của sĩ-quan thuộc binh-chủng thiện-chiến nhất, tức binh-chủng nhảy dù, cho nên các cảnh-sát cũng giả-vờ như không thấy. Bởi vậy, anh đã trở nên nổi tiếng trong trường với chiếc nón nhảy dù nổi bật mà không ai dám đội.

Một ngày kia anh nói với tôi rằng anh muốn giới-thiệu với tôi một người bạn thân của anh để làm bạn cho vui. Đương nhiên là tôi không từ-chối, vì ở lứa tuổi của tôi thì có biết cái gì đâu mà từ-chối chứ? Một vài ngày sau thì anh dẫn người bạn ấy đến nhà chúng tôi, một ngôi nhà nhỏ nằm ở gần chợ Nguyễn-Tri-Phương, và tôi với hai bà chị cùng tiếp đón họ một cách vui-vẻ. Mặc dù lớn hơn tôi chỉ một vài tuổi, nhưng anh là một người trông chững-chạc, giống như một người thanh-niên đã trưởng-thành vậy. Ba mẹ chúng tôi cũng hài lòng về họ vì đã đến thăm gia-đình chúng tôi một cách đường-hoàng, chứ không có những chuyện trốn tránh hoặc rủ-rê hẹn-hò lén-lút với con gái. Mẹ tôi đã từng nói với các chị rằng: “Các con có bạn trai thì phải dẫn về nhà đàng-hoàng, chứ ba mẹ không hề ngăn cấm”. Và bà cũng chỉ-trích những gia-đình nghiêm-khắc rằng: “ Nếu ngăn cấm chúng nó gặp nhau tại nhà sẽ khiến cho chúng nó hẹn-hò nhau trong rạp xi-nê, thì sao?” Cho nên kể từ đó thì hai anh cũng trở nên những người bạn chính-thức của gia-đình chúng tôi.

Cả hai người thanh-niên trạc tuổi nhau ấy đều nói giọng Bắc, một giọng nói ấm-áp và lưu-loát thường đưa người ta trở về với một miền đất xa-xôi, nơi mà gia-đình họ đã phải bỏ tất cả để di-cư vào Nam, trong năm 1954. Có lẽ một phần cũng vì vậy cho nên nhà của họ cũng ở gần nhau, trong trại gia-binh, và họ là bạn rất thân với nhau từ nhỏ cho tới lớn. Mà cũng có thể chính vì thân nhau như vậy cho nên họ muốn chia-sẻ cho nhau tất cả những gì mà mình có, kể cả giới-thiệu cho nhau về người con gái mà mình mới yêu ở lứa tuổi đầu đời chăng? Tôi thì được “ăn theo” tình-cảm đó, và dần dần tôi cũng có nhiều thời-gian hơn để tiếp-xúc với hai anh, như một nhịp cầu để bắc qua bà chị tôi vậy.

Có một điều đã khiến cho tôi lưu ý rằng hai anh ấy là người Công-giáo, cũng như gần một triệu người dân miền Bắc khác, cho nên họ mới chọn miền Nam mà di-cư. Bởi vì chính tôi cũng rất có cảm-tình với Thiên-Chúa-giáo và sau khi hỏi thăm thì tôi mới biết rằng hai anh thường đi lễ ở nhà-thờ Đồng Tiến vào mỗi sáng Chúa-nhật. Vào thời-điểm đó thì tôi đã được biết rằng Chúa chịu chết trên cây thập-tự  là để chuộc tội cho loài người, mà trong đó có tôi, cho nên lòng tôi được cảm-động sâu xa mà muốn đến với Chúa. Dù vậy, một con đường ngắn-ngủi để được trở thành một người con của Chúa xem ra cũng có nhiều khó-khăn, mà cái khó-khăn lớn nhất là do tánh-tình hay e-dè và nhút-nhát của tôi. Cho nên tôi luôn luôn để ý đến những người bạn có đạo của mình, để ý đến những ngôi nhà thờ mà mình tình-cờ nhìn thấy trên đường, và để ý đến cả những ngôi nhà thờ thời Trung-cổ mà tôi nhìn thấy trong phim ảnh nữa. Tôi thấy mình có một điều gì đó gắn bó với đạo Chúa, dường như đó là đạo thuộc về tôi từ lâu lắm rồi, phải, đã lâu lắm rồi, cho dù tôi không biết tại sao mà mình lại đang sống trong một gia-đình ngoại đạo nữa?

Có lẽ ba mẹ tôi cũng nhận thấy điều ấy nên có một vài lần khuyên tôi rằng gia-đình mình không có dính-dáng gì tới đạo Chúa hết. Nhưng trước sự phản-ứng quyết-liệt của tôi thì kể từ đó về sau, không ai còn nói gì với tôi về chuyện đó nữa. Trong thâm tâm, dường như mọi người đều biết rằng trước hay sau gì thì tôi cũng sẽ thuộc về đạo Chúa, nhưng chỉ còn chờ thời-gian nữa mà thôi.

ÁNH SAO CÔ ĐƠN - Diên Vĩ

Có ai đó đã nói: “Đời con gái hay lặp lại đời mẹ”, Ly ngước mắt nhìn những ánh sao lấp lánh trên cao thầm ước đời mình sung sướng hơn đời mẹ.

Ly lớn lên trong một gia đình trung lưu ở Mỹ Tho. Con gái miền Tây nổi tiếng với dáng cao, da trắng, tóc dài. Con gái nhà người ta thì được cưng chìu ăn trắng, mặc trơn nhưng nhà Ly thì khác. Ông bà Hài – ba má Ly chỉ cưng em trai của Ly thôi. Ông Hài nói:

- “Con gái trở giỏ lửa ra”, con gái là con của người ta. “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, tui chỉ cần một đứa con trai nối dõi tông đường là đủ rồi.

Bà Hài phụ họa:

- May mà tui sanh được thằng Thanh giỏi giang, thông minh cho ông…

NGÀY MAI TÔI SẼ CHẾT - Thiên Quốc

Gã nông dân đứng đối diện với ông thầy thuốc, trước giường người hấp hối. Bà lão nằm đó, lặng lẽ nhìn hai người đàn ông và nghe họ trò chuyện cách minh mẫn. Bà sắp chết, bà không cưỡng lại được điều đó, cuộc đời lao khổ mệt nhọc của bà phải dừng tại đây thôi. Bà đã tám mươi chín tuổi.

Cố nhướng đôi mắt mờ đục nhìn ra hướng cửa sổ, bà cảm nhận được hơi nóng của mặt trời tháng năm đang tràn vào phòng, rọi ánh nắng bức bối lên thềm đất nâu, mấp mô, cũ kỹ. Một con gió hiếm hoi lướt qua mang theo mùi lúa chín, mùi cỏ, mùi đồng ruộng phất ngang mũi bà. Lấy chút hơi sức còn lại bà hít lấy mùi quen thuộc của cả đời bà. Đâu đó ngoài hiên tiếng ve kêu rôm rả trên những cây xoài già quanh nhà, bà nghe thấy ông thầy thuốc cất cao giọng:

- Ông hai! Ông không thể bỏ mặt mẹ mình trơ trọi trong tình trạng này được, bà cụ sẽ "đi" bất kỳ lúc nào!

Ông Bố Dượng 50 Tuổi và Câu Chuyện Thấm Thía về Hai Chữ “Người Nhà”

Ông ấy đã hơn 50 tuổi, lấy mẹ tôi cũng vì muốn tìm người bầu bạn lúc tuổi già. Ông không có điểm gì nội trội ngoài khả năng nấu ăn và tấm lòng chân thật, nhưng khi tiếp xúc với ông, tôi mới thật sự hiểu ra hai chữ “người nhà”.
 

ông bố dượng, người nhà, câu chuyện,

Ông bố dượng 50 tuổi và câu chuyện thấm thía về hai chữ “người nhà”. (Ảnh: Internet)

Sau khi bố tôi mất được ba năm, ông ấy đã đến nhà tôi

So với người cha của tôi, ông ấy tầm thường đến nỗi chẳng có ưu điểm gì đáng để nói đến. Nhưng mà, người mẹ ngoài 50 tuổi cần có một người bầu bạn, mà yêu cầu của người già đã ngoài 50 tuổi đối với một nửa kia rất nhiều khi chỉ cần phẩm cách tốt là được rồi.

Về mặt này ông ấy có đủ điều kiện, bởi ông là người tốt nổi tiếng gần xa, là người thật thà chất phác. Cái hôm gặp gỡ lần đầu tiên với mẹ tôi, ông rất bối rối. Bởi vì ông biết rất rõ rằng mọi phương diện của mình đều không có ưu thế: nhà thì chật hẹp, tiền lương thì ít, chẳng qua chỉ là một công nhân phổ thông nghỉ hưu, hơn nữa nhà của cậu con trai vừa mới kết hôn cũng cần đến sự giúp đỡ của ông.

Nói thật lòng, mẹ tôi cũng chỉ là vì nể mặt người mai mối nên mới quyết định đến gặp ông ấy. Và cuối cùng mẹ đã sinh ra thiện cảm đối với ông bởi tài nghệ nấu nướng của ông.

Sau khi gặp mặt, ông ấy nói: “Bà Lý này, tôi biết điều kiện của bà rất tốt, không thiếu gì cả, thật tôi không có gì đáng để gửi tặng bà. Nhưng dù thế nào, chúng ta cũng hãy thử quen nhau xem sao, chiều nay bà hãy ở lại nhà tôi dùng bữa cơm đạm bạc nhé!”.

Tấm lòng chân thành của ông khiến mẹ tôi không nỡ từ chối, và bà đã ở lại. Ông không để bà động đến một tay, đã làm một bát canh với bốn loại rau, đặc biệt là món bí ngô nấu thịt, mẹ tôi đã ăn ngon đến không nỡ đặt đũa xuống.

Trước khi đi, ông đã nói với mẹ tôi rằng: “Sau này nếu như muốn ăn nữa, thì hãy đến đây. Nhà tôi tuy không khá giả lắm, nhưng chiêu đãi món bí ngô thì không tốn công phí sức chút nào”.

Về sau, mẹ tôi lần lượt gặp mấy người lão niên khác nữa, nhưng mà, tuy điều kiện của mỗi người đều tốt hơn ông ấy, nhưng cuối cùng mẹ tôi vẫn chọn ông.

Lí do thật ra cũng được xem là ích kỷ, bà ấy đã phục vụ và chăm sóc ba tôi hơn nửa đời người rồi, lần này bà muốn một lần làm đối tượng được người ta chăm sóc lại.

Cứ như vậy, ông ấy và mẹ tôi đã đến với nhau…

Người ngoài hay là người nhà?

Hôm đó, ông ấy, mẹ tôi, thêm tôi nữa, còn có gia đình ba người của con trai ông cùng dùng một bữa cơm với nhau.

Tôi đặc biệt sắp xếp bữa cơm này trong một khách sạn năm sao sang trọng, trên bề mặt thì thấy là vì để bày tỏ sự coi trọng đối với ông, thật ra là muốn thông qua đó mà thể hiện đẳng cấp của mình.

Khi rời khỏi khách sạn, ông nhẹ nhàng nói với tôi: “Từ nay chúng ta đã là người nhà với nhau rồi, là hai bố con đấy! Sau này nếu con muốn mời bố ăn cơm thì chỉ việc đi đến những quán ăn bên đường là được rồi, ở đó bố sẽ ăn được thoải mái hơn, lòng không bị đau và cũng không thấy tiếc tiền”.

Chính biểu lộ tình cảm chân thành của ông đã làm tổn thương cái tâm hư vinh giả dối của tôi, khiến tôi cảm thấy đấu trí với một người thật thà, giống như một người lớn lấy kẹo để dụ dỗ một đứa con nít vậy, thật là vô sỉ chẳng còn gì để nói nữa.

Ông ấy đã chăm lo cho mẹ tôi rất tốt, bà ấy mỗi lần gặp tôi đều bảo cần phải giảm cân, đó là một giọng điệu hạnh phúc.

Ông ấy nấu ăn thật sự rất ngon. Một lần nọ, khi cùng ăn cơm với mọi người, tôi không nhịn được nói với vợ rằng: “Lần sau khi chú Đường làm cơm, em hãy ở bên cạnh mà học hỏi một chút”. Trong sắc mặt của vợ vốn không hề có phần muốn học, trái lại còn có mấy phần tức giận.

Ông vội vàng đứng ra giải vây, ông nói: “Một đời này của bố đều không làm được gì tốt cả, chỉ có chút tài nghệ làm được mấy món ăn, các con đều là những người làm chuyện đại sự, tuyệt đối đừng có học theo ta, nếu như muốn ăn, thì hãy đến đây, đến bất cứ lúc nào cũng được. Làm cơm này, sợ nhất là cơm mình làm không có người ăn”.

Hôm đó khi chúng tôi đi về, ông ấy đã gói rất nhiều đồ do chính tay ông làm bảo chúng tôi mang về, vừa cầm lấy tay tôi vừa nói: “Đừng có khen cơm của bố nấu ngon nữa, nói thật lòng, hễ có người nói đến ưu điểm này thì bố thấy ngại lắm. Một người đàn ông chỉ biết nấu ăn, còn những phương diện khác thì lại không làm được trò trống gì cả, đây đâu thể nói là ưu điểm được”.

Trên đường về nhà, tôi đã kể lại cho vợ nghe những lời này của ông. Cô ấy nói: “Người như ông ta, trời sinh là số phải phục vụ người ta, trời sinh chính là bằng lòng cúi đầu đến sát mặt đất. Mẹ chúng ta có phúc khí, già rồi còn làm một hoàng thái hậu”.

Tôi vừa lái xe, vừa dùng mắt liếc nhìn vợ, cảm nhận sự khinh thường của vợ đối với ông ấy, trong lòng lại không biện giải gì cho ông. Rốt cuộc, ông trước sau vẫn là một người ngoài mà.

ông bố dượng, người nhà, câu chuyện,

(Ảnh: Internet)

Xấu hổ

ĐỊA CHỈ NƯỚC TRỜI - Bọt Biển

Xin bấm vào link dưới đây:

TIN VUI MÙA ĐÔNG - Bọt Biển


Trời đông, gió se lạnh thổi vi vu, xào xạc qua những hàng liễu rũ thẳng tắp trong sân nhà thờ. Những ánh đèn rực rỡ màu sắc được người ta trang trí tạo cho cảnh vật thêm phần lung linh huyền ảo. Đêm Giáng Sinh, đêm thanh bình, người người ùa nhau ra phố; những ngỏ hẻm quanh nhà thờ chật cứng người đến tham dự Thánh Lễ, kể cả những người chưa tin Chúa cũng tìm đến tùy theo từng mục đích riêng.

Ngôi nhà thờ nhỏ trong con hẻm này cũng vậy, đèn điện lấp lánh, mọi thứ được diễn ra như bình thường, từ hoạt cảnh canh thức Giáng Sinh cho đến Thánh Lễ đều được chuẩn bị và thực hiện đầy tôn kính, nghiêm trang. Sau Thánh Lễ, mọi người lại hồ hởi chụp hình; những người thân quen, những cặp tình nhân cứ thế trao nhau những câu chúc mừng trong đêm cực Thánh.

Nơi một góc nhỏ ít huyên náo của khuôn viên nhà thờ, Nhi tựa người vào chiếc ghế đá, cô thả hồn theo những bản Thánh Ca mê đắm lòng người. Nhi cứ mãi suy nghĩ về ý Lễ mà Cha xứ nêu lên ban nãy trong Thánh Lễ.“ Có phải Cô Hạnh không? Hay chỉ là sự suy tưởng của mình?”, cô cứ thẩn thờ, vẻ mặt đăm chiêu.

– Mừng Chúa của mày Giáng Sinh nhé! – Một bàn tay vỗ nhẹ vào vai Nhi từ đằng sau, con Nguyên – nhỏ bạn chung chỗ trọ nhanh nhảu chúc mừng.

– Cảm ơn nha. Mà có phải của cô Hạnh không mày? – Nhi hỏi một cách vô thức.

ĐỪNG ĐÙA VỚI LỬA – Hải Yến

“Má ơi! Đừng đùa với lửa”. Đó là câu nói hết sức khẩn thiết, được lặp đi lặp lại của đứa con gái út nhà bà Năm.

Con bé hai mươi tuổi, đang là sinh viên của trường trung cấp Y, nó đi theo chúng bạn đi nhà thờ rồi lên tin Chúa luôn. Lúc đầu bà Năm và tám người anh, chị của nó cấm cản lắm nhưng nó cứ nhất quyết tin thờ Chúa của nó, không chịu bỏ, rồi nó lại ở trọ xa nhà, cả nhà bà Năm không thể quản lý nó được, đành làm lơ cho nó muốn đi nhà thờ thì cứ đi. Mà từ ngày nó đi nhà thờ, nó ngoan ngoãn và học khá lên hẳn, không có tụ tập bạn bè đi chơi như trước kia, bà Năm cũng an lòng.

Bà Năm là một bà đồng chuyên gọi hồn người chết về để nói chuyện. Bà tự nhận mình được “ơn trên” dựa, chọn và “mắc cái nghiệp” này cho đến hết đời. Rất nhiều tín hữu thập phương đến nhờ vả “Cô Năm” để gọi hồn người nhà mình đã chết hỏi xem họ cần gì, muốn gì… để họ biết mà cúng cho đúng ý.

Bà Năm phất lên cũng nhờ cái niềm tin sai lạc của nhiều người. Họ nói rằng bà nói trúng phóc vì họ là những người ở xa tới, bà đâu có biết họ đến từ đâu, làm gì và người nhà họ là ai đâu nhưng khi bà gọi hồn, hỏi và trả lời thì đều là những chuyện đã từng xảy ra trong gia đình họ. Danh tiếng “Cô Năm” gọi hồn ngày càng bay xa…

GƯƠNG VỠ LẠI LÀNH - Uông Nguyễn

 
Ở xứ nọ có một nghệ nhân tài ba tuyệt vời, trong sự nghiệp sáng tạo của mình ông đã tạo ra bao nhiêu sản phẩm trứ danh. Vào thời điểm tuyệt đỉnh của nghệ thuật ông kiến tạo ra cho mình một tấm gương rất trong sáng, so với tất cả những sản phẩm nghệ thuật khác thì tấm gương này là vật ông quý mến nhất, bởi vìnó có thể phản ảnh lên được rất nhiều cá tính của ông. Nghệ nhân quý mến tấm gương này lắm, ông thường soi mình vào gương khi thức dậy vào buổi sáng, ông nhìn vào gương để chấn chỉnh quần áo, tóc tai khi tiếp khách hay đi chơi. Đôi lúc ông cả thổ lộ lòng mình trước gương.

Lòng yêu quý tấm gương kia của ông bỗng nhiên tạo ra sự ghen tuông trong những sản phẩm khác trong nhà, mà kẻ tỏ thái độ tức tối nhất phải kể đến chàng Bút, bởi vì trước đây, nghệ nhân đã từng cùng Bút bày tỏ những thầm kín trong lòng. Kể từ ngày có gương, nghệ nhân hay ngắm nhìn nói chuyện thân mật với gương và mỗi khi nhìn thấy cảnh tượng này là Bút lạilồng lộn lên vì hậm hực. Cơn ghen tuông nổi lên gặm nhấm hết tâm hồn của mình khiến cho Bút không thể chịu đượcnữa. Hắn liền bụng bảo dạ: “Này gương kia, mi được yêu thương, mi được nâng niu, mi được gần gũi và tương giao với nghệ nhân. Mi hãy coi chừng tao! Một ngày nào đó khi không có nghệ nhân bảo vệ, tao sẽ đẩy cho mi ngã xuống. Mi sẽrơi xuống sàn xi-măng dưới kia và thân thể mi sẽ bị vỡ tan ra nhiều mảnh. Để xem nghệ nhân kia có còn cùng mi ngắm nhìn và nói chuyện với nhau nữa hay không!”

Những ý nghĩ đen tối trong đầu óc Bút rồi cũng đã đến lúc chín muồi, hắn lên một kế hoạch hành động. Bút nhẫn tâm chờ cơ hội sẽ đến.

Ngày nọ nghệ nhân kia có việc đi xa, ông gọi gương lại mà dặn dò. “Ta sẽ đi xa ít ngày và sẽ quay trở lại. Ngươi ở nhà và thận trọng với tất cả mọi thứ khi ta vắng mặt.” Gương đón nhận  lời dặn dò của ông nghệ nhân và ngoan ngoãn gật đầu vâng theo.

THU HOẠCH CUỐI NĂM - Thiên Quốc & Hải Yến

Phần 1:DÁM SỐNG TRÊN BỜ VỰC   (Lời người chồng).

Tôi đã đọc quyển sách “Dám sống trên bờ vực” này sau khi kết hôn được một năm. Tôi không nhớ mình có được nó nhân dịp nào nữa nhưng cuốn sách đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống đức tin của cả hai vợ chồng tôi. Từng hồi từng lúc tôi nghiệm ra rằng “bởi đức tin và lòng tin cậy trong sạch nơi Đức Chúa Trời sẽ khiến Đức Chúa Trời thực hiện chương trình của Ngài.” Đó chính xác là một cuộc phiêu lưu với Đức Chúa Trời. Một đức tin phó thác, ứng dụng vào đời sống với lòng thành thật và lòng tin cậy trọn vẹn nơi lời hứa của Ngài, đó chính là điều mang ý nghĩa “sống bởi đức tin”.

Những gia đình mới lúc nào cũng gặp sóng gió trong một khía cạnh nào đó về gia đình, về tài chính, các mối quan hệ trước kia của cả hai bên… Chúng tôi không nằm ngoài quy luật tự nhiên của những con người sống trong một nền văn hóa Á Đông. Những quyết định của “đôi trẻ” (trẻ cả tuổi đời lẫn kinh nghiệm) đều phải hỏi và được sự thông qua của người lớn trong nhà. Theo một khía cạnh nào đó thì thuận lợi vì cha mẹ, ông bà đều đã trải qua và có kinh nghiệm trong cuộc sống nên sẽ có những lời khuyên bổ ích, chính xác với tính cẩn thận ngút ngàn. Nhưng nó cũng thật là bất cập khi những lời khuyên đó trở thành những quyết định sau cùng mà đôi trẻ phải nghe và làm theo. Có hai luồn ý kiến trái chiều từ hai bên gia đình Nội, Ngoại và đó là điều khó xử để đôi trẻ cần phải nghe ai. Mâu thuẫn xảy ra, gia đình giận hờn, đôi trẻ chẳng được yên, có nhiều gia đình trẻ đổ vỡ vì điều đó và nếu chúng tôi là những người không đặt Chúa lên trên cảm xúc của mình thì đã chẳng có một gia đình trọn vẹn như ngày hôm nay. Cúng tôi cảm tạ Chúa đã thương xót và từng hồi từng lúc dìu dắt chúng tôi qua những cơn giông bão của đời này.

Một gia đình nhỏ ra riêng với hai bàn tay trắng, đó không là điều dễ dàng đối với bất kỳ ai nhưng nếu muốn giữ hạnh phúc cho riêng mình, cho một mái gia đình mới thì Lời Chúa có nói “Bởi vậy, người nam sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai trở nên một thịt. (Sáng thế ký 2:24)”

Chúng tôi mướn một “cái nhà” (nói là nhà cho oai chứ đó là phần sân có mái che mà người ta làm để cho mướn bán quán) sát bên một trường cấp ba để ở và buôn bán các loại thức ăn, nước uống cho học sinh. Trong hai năm, chúng tôi lỗ vốn vài chục triệu vì tiền thuê nhà và các khoản thuế khác. Tôi nghiệm ra được một điều là tôi không có máu kinh doanh.

 Tôi nghĩ nhiều về học sinh vùng quê, đời sống khó khăn thì mình nên bán rẻ cho tụi nhỏ. Những bữa cơm của chúng tôi luôn có từng tốp học sinh “tham gia”, đó là những đứa ở quá xa nhà mà trưa cần ở lại trường nhưng không có tiền ăn cơm.

MỘT CHUYẾN ĐỔI TIỀN - Nắng Ấm Mùa Xuân

Khi chúng tôi đang học năm cuối trong Cao-đẳng Sư-phạm, thì một buổi sáng kia, bỗng nhà trường thông-báo rằng toàn bộ sinh-viên phải ngưng việc học, và tập-trung tại trường ngay trong buổi trưa hôm ấy, để chuẩn-bị cho một chuyến công-tác kéo dài khoảng vài ngày. Tất cả các sinh-viên đều ngạc-nhiên và nhốn-nháo hẳn lên, vì chuyện nầy chưa bao giờ xảy ra từ trước cho tới nay. Hơn nữa, đó không phải là một đề-nghị, hay một yêu-cầu của nhà trường, mà nói cho đúng ra thì nó là mệnh-lệnh, và tất cả các sinh-viên đều có bổn-phận phải chấp-hành. Nhưng chúng tôi đi công-tác ở đâu? Không ai biết! Chúng tôi phải làm công-tác gì? Cũng không ai biết! Dù vậy, tất cả đều phải đi, và chỉ có những trường-hợp hết sức đặc-biệt thì nhà trường mới cho phép miễn công-tác. Có lẽ trong trường của chúng tôi chỉ có một vài người thuộc diện đặc-biệt nầy, như những người đang đau yếu, hoặc những nữ sinh-viên phải ở nhà chăm sóc con chẳng hạn. Mỗi người chỉ cần chuẩn-bị cho mình một vài bộ đồ và những dụng-cụ cá-nhân trong chuyến đi nầy, còn nơi ăn và chốn ở thì đã có nhà nước lo tất cả.

Đương nhiên là có nhiều người đặt câu hỏi về chuyến công-tác nầy, và bàn-tán xôn-xao trong các lớp, nhưng cuối-cùng rồi thì cũng không ai có lời giải-đáp. Tất cả chỉ là những câu hỏi và những lời giải-đáp mơ-hồ mà thôi. Một vài người lại tỏ ra im lặng một cách bất thường, có lẽ vì trong tâm-trí họ đã nghe nói tới một điều gì đó, nhưng họ tuyệt-đối không hề dám hé môi, cho dù đó chỉ là những tin đồn đi nữa. Còn đối với đại đa số sinh-viên chúng tôi thì chẳng có gì phải bận tâm suy-nghĩ, nhất là đối với những chuyến đi mà nhà nước hứa bảo-đảm như vậy. Ngoài ra, chúng tôi còn được hứa là mỗi ngày công-tác của chúng tôi sẽ được bồi-dưỡng một cách hợp lý nữa.

MỘT CHUYẾN ĐỔI TIỀN - Nắng Ấm Mùa Xuân

 

Khi chúng tôi đang học năm cuối trong Cao-đẳng Sư-phạm, thì một buổi sáng kia, bỗng nhà trường thông-báo rằng toàn bộ sinh-viên phải ngưng việc học, và tập-trung tại trường ngay trong buổi trưa hôm ấy, để chuẩn-bị cho một chuyến công-tác kéo dài khoảng vài ngày. Tất cả các sinh-viên đều ngạc-nhiên và nhốn-nháo hẳn lên, vì chuyện nầy chưa bao giờ xảy ra từ trước cho tới nay. Hơn nữa, đó không phải là một đề-nghị, hay một yêu-cầu của nhà trường, mà nói cho đúng ra thì nó là mệnh-lệnh, và tất cả các sinh-viên đều có bổn-phận phải chấp-hành. Nhưng chúng tôi đi công-tác ở đâu? Không ai biết! Chúng tôi phải làm công-tác gì? Cũng không ai biết! Dù vậy, tất cả đều phải đi, và chỉ có những trường-hợp hết sức đặc-biệt thì nhà trường mới cho phép miễn công-tác. Có lẽ trong trường của chúng tôi chỉ có một vài người thuộc diện đặc-biệt nầy, như những người đang đau yếu, hoặc những nữ sinh-viên phải ở nhà chăm sóc con chẳng hạn. Mỗi người chỉ cần chuẩn-bị cho mình một vài bộ đồ và những dụng-cụ cá-nhân trong chuyến đi nầy, còn nơi ăn và chốn ở thì đã có nhà nước lo tất cả.

Đương nhiên là có nhiều người đặt câu hỏi về chuyến công-tác nầy, và bàn-tán xôn-xao trong các lớp, nhưng cuối-cùng rồi thì cũng không ai có lời giải-đáp. Tất cả chỉ là những câu hỏi và những lời giải-đáp mơ-hồ mà thôi. Một vài người lại tỏ ra im lặng một cách bất thường, có lẽ vì trong tâm-trí họ đã nghe nói tới một điều gì đó, nhưng họ tuyệt-đối không hề dám hé môi, cho dù đó chỉ là những tin đồn đi nữa. Còn đối với đại đa số sinh-viên chúng tôi thì chẳng có gì phải bận tâm suy-nghĩ, nhất là đối với những chuyến đi mà nhà nước hứa bảo-đảm như vậy. Ngoài ra, chúng tôi còn được hứa là mỗi ngày công-tác của chúng tôi sẽ được bồi-dưỡng một cách hợp lý nữa.

Cho nên, khi buổi trưa vừa đến thì sân trường của chúng tôi đã nhốn-nháo hẳn lên với sự có mặt của 3.000 sinh-viên, người nào cũng mang theo một cái túi xách là hành-trang cho chuyến đi của mình. Đương nhiên là chúng tôi đã ăn cơm trưa ở nhà, và mặc dù có hơi hồi-hộp, nhưng nói chung là ai nấy cũng không mấy lo, vì có tới cả ngàn sinh-viên cùng đi với mình. Nếu có sinh-viên nào thích cảm-giác mạnh, thì đây là một cơ-hội để họ thể-hiện bản tính của mình.

Khỏi trưa, chúng tôi được chỉ-thị là toàn thể các sinh-viên phải tập-trung ở dưới sân trường, và tuyệt-đối không một sinh-viên nào được có mặt trên các tầng lầu. Thế là lập-tức mọi người đều hối-hả xuống sân sau khi đã đóng tất cả các cửa sổ của phòng học, để không ai có thể từ trong trường nhìn ra bên ngoài hoặc từ bên ngoài nhìn vô trong trường được. Như vậy, ở bên ngoài nhìn vào, người ta sẽ thấy hoàn toàn im-ắng, như một ngôi trường vào mùa hè vắng học-sinh, hay như một ngôi trường đã đóng cửa từ lâu vậy, nó hoàn toàn biệt lập với thế-giới bên ngoài. Ít có ai ngờ rằng ở dưới sân tràn lan sinh-viên đang ngồi thứ-tự theo từng khu-vực của các khoa, các lớp, với đủ những lời bàn tán xì-xào. Nhờ bóng mát của hàng trăm cây-cối quanh sân trường mà khoa nào cũng có thể tìm được một vị-trí ngồi ổn-định lúc xế trưa.

MỘT THỤY SĨ Ở GIỮA VIÊT NAM - Nắng Ấm Mùa Xuân


Tôi thi đậu vào trường Cao-đẳng Sư-phạm sau 1975 một năm. Đó là một niềm vui đối với tôi và gia-đình, không những vì tôi có thể tìm được một nghề chính-đáng trong tương-lai, mà vì còn được học bổng. Như vậy thì gánh nặng về kinh-tế của gia-đình chúng tôi sẽ được vơi bớt, trong lúc tôi chính-thức từ bỏ việc sản-xuất rẻ tiền của mình, và chuẩn-bị để tiếp-tục việc học.

Trong ngày đầu tiên vào trường thì tôi nhận thấy có khoảng 3.000 sinh-viên, cả nam lẫn nữ, đang tề-tựu về đó. Gương mặt của những người trẻ ấy phần lớn đều có một vẻ tươi sáng, có lẽ là vì họ cảm thấy vui-mừng khi nghĩ tới một tương-lai hứa-hẹn ở phía trước. Nhưng sau nầy tôi mới chợt nhớ tới một số người không được tươi vui cho lắm. Nói chung thì họ không phải là những người thi đậu vì có học-lực tương-đối, nhưng chỉ vì họ là những thanh-niên làm chính-trị ở địa-phương, cho nên nhà nước đã ưu-tiên cho họ vào đó, để làm công-tác cổ-động, tuyên-truyền cho chế-độ. Một số người trong đó có học-lực rất yếu, nhưng vẫn được Giáo-viên chủ-nhiệm chỉ-định làm những người lãnh-đạo lớp, và sau hai năm học thì họ cũng ra trường như bao nhiêu người khác, cho dù là điểm thi của họ có như thế nào đi nữa.

Chúng tôi được chia theo từng Khoa mà mình đã lựa chọn lúc còn học trung-học, nhưng cũng có những Khoa quá vắng người mà nhà trường đã yêu-cầu hằng trăm sinh-viên phải chấp-nhận vào những Khoa đó. Đó là những Khoa rất nặng về chính-trị cho nên phần đông sinh-viên đều không ưa-thích. Cũng may-mắn là trong số những người bị ép đó không có tôi, nên tôi vẫn có thể học tiếp với những bộ môn mà mình đã lựa chọn.

Khi chỉ mới bắt đầu năm học được một ngày, thì nhà trường đã tập-tành cho chúng tôi làm quen với việc lao-động chân tay. Sinh-viên trong toàn trường đều phải làm việc và lúc nào cũng có nhiều người đi, kẻ lại trong khắp sân trường. Đương nhiên là việc lao-động đó được tổ-chức theo từng Khoa, nhưng bởi vì tất cả các Khoa đều lao-động cùng ngày với nhau, cho nên nó tạo ra một không-khí xôn-xao trong khắp trường, như để chuẩn bị cho một lễ hội vậy.

CUỘC PHIÊU LƯU CỦA HAI HẠT LÚA - Uông Nguyễn

 

Hai hạt lúa được đổ lên thùng một chiếc xe tải với hằng triệu hạt lúa khác để trở về nhà máy chế biến họ thành những hạt gạo.Một hạt lúa có tên là Tự Đại có khẩu khí rất lớn, biết vận dụng văn chương cho nên anh ta khá hùng biện. Tự Đại biết mình là nhân vật của lý tưởng, mang trong mình một kỳ vọng rất lớn do đó anh ta thao thao nói. "Khi tớ được ra khỏi nơi đây thì tớ sẽ làm ông tổ của hằng tỷ tỷ hạt lúa giống, dòng tộc nhà tớ sẽ nuôi sống hàng tỷ người..." Nghe Tự Đại nói mà những hạt lúa khác bèn bày tỏ phản xạ khác nhau, kẻ gật đầu tán thưởng, kẻ bĩu môi bày tỏ nghi ngờ, phần còn lại thì chẳng thèm quan tâm.

Nằm bên cạnh Tự Đại là hạt lúa khác là Thiên Phúc, có bản tính thật thà. Tâm hồn của Thiên Phúct rong trắng như hạt sương mai, nhưng vì hay e thẹn cho nên hắn chỉ biết quan sát mọi thứ xung quanh và suy nghĩ mà chẳng hắnira suy tư thầm kín của mình. Vốn ít nói cho nên khẩu khí của Thiên Phúc không được trui rèn rồi lại cả bị chút cà-lâm, cho nên khi muốn phát biểu điều gì anh ta chỉ thì thì... mà... mà... rồi ngồi xuống mặt đỏ gay gắt.

Hôm nay do bị đặt vào cùng một chỗ với Tự Đại, và nghe anh ta biện thuyết, Thiên Phúc như được tiếp thêm nguồn cảm hứng. Anh ta mạnh dạn giơ tay muốn nói lên một điều gì đó, nhưng khi mở miệng thì cái tật cà-lâm khiến cho Thiên Phúc không thể bày tỏ nổi suy tư trong thâm tâm, và hậu quả là những hạt lúa khác đã biến Thiên Phúc thành trò cười để họ tha hồ trêu chọc.

*

Chiếc xe tải đi qua một khúc cua, ‘khục...khục... khục’ chiếc xe phải băng qua một vài cái ổ trâu, rồi đến vài cái ổ voi khiến cho cả chiếc xe bất ngờ lắc lư hất tung mọi thứ trong thùng rơ-moóc. Cả Tự Đạ ivà Thiên Phúc đều bị hất cao lên rồi cả hai đều bị ném xuống chòm đất bên cạnh đường.

Qua khoảnh khắc của sợ hãi cả Tự Đại và Thiên Phúc phải nằm im lắng nghe mọi động tĩnh xung quanh. Bỗng nhiên Tự Đại cất tiếng kêu thất thanh.

NẾU BIẾT TRĂM NĂM LÀ HỮU HẠN - Hải Yến

Xin đọc trọn bài dưới đây:

44 - NƠI NỖI ĐAU DỪNG LẠI - Hải Yến

Xin đọc trọn bài dưới đây:

43 - ƯỚC MƠ MÀU THIÊN THANH - Diên Vĩ

 

Trời tối đen như mực, chiếc áo Thiên Thanh đang mặc cũng đen thui như màn đêm. Núp trong lùm cây bên cạnh vài bóng đen khác, Thiên Thanh hồi hộp chong mắt ngóng về hướng biển. Tiếng sóng vỗ ì ầm hòa cùng tiếng lá xào xạc khiến lòng cô gái nhỏ thêm nôn nao. Thời gian chờ đợi như ngừng trôi. Một giờ đồng hồ lo lắng, bồn chồn dài như cả thế kỷ. Bỗng nhên, mặt biển lóe sáng bởi nhiều ánh đèn chớp nhá. Một người khẽ reo lên:

- Tàu tới rồi!

Giọng một người đàn ông hét vang:

- Đèn pin công an đó, chạy mau…

Thiên Thanh lao nhanh ra khỏi bụi cây, cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng. Bỗng chốc, ánh đèn chiếu thẳng vô mắt cô bé. Tay chân bủn rủn, cô bé thoáng thấy những họng súng đen ngòm chĩa vô lưng đoàn người muốn đi tìm tự do bên kia bờ đại dương. Cắn chặt môi để không bật khóc, Thiên Thanh theo đoàn người lê thê bước vào ngục tối.

Nằm trên nền xi – măng lạnh lẽo trong tù, Thiên Thanh nhủ lòng phải mạnh mẽ để đối diện với những khó khăn trước mắt. Nào là bọn cai ngục hung hăng như mèo hoang, nào là nạn đồng tính, “ma cũ ăn hiếp ma mới”…  cô bé mười bảy tuổi rùng mình nhớ lại cảnh tù tội trong đợt vượt biên lần trước.  Thiên Thanh chỉ biết nhắm mắt cầu nguyện để được bình an vượt qua mọi chuyện. Nước mắt tràn khóe mi khi cô bé nhớ về những ngày hạnh phúc bên bố mẹ kính yêu. Mộng và thật cứ đan xen vào nhau trong giấc mơ của cô bé qua lời kể của ngoại, của má…

**

Trung tá Lâm nắm tay cô vợ xinh xắn thả bước trong khuôn viên biệt thự Hoàng Lâm. Diệu Hoàng thỏ thẻ:

44 - NƠI NỖI ĐAU DỪNG LẠI - Hải Yến

Xin đọc trọn bài dưới đây: 

Syndicate content