NHỮNG CÂU CHUYỆN PHÚC ÂM

Xin đọc trọn bài dưới đây:

Trương Úc Lam - Đài Loan
Chương 1-5


 
 CHƯƠNG 1

LÀM THẾ NÀO CÓ THỂ NÓI LÀ KHÔNG CÓ ĐỨC CHÚA TRỜI?

Tôi muốn cùng quý vị khảo sát kĩ một câu hỏi: Có Đức Chúa Trời trong vũ trụ này không? Một số thì nói có, số khác cãi là không. Sự tranh luận bị chia rẽ càng lớn với mỗi bên đều đưa ra một câu chuyện khác nhau. Thật sự là có Đức Chúa Trời không? Nếu nói có, quý vị đã bao giờ gặp Ngài hay chạm Ngài chưa? Quý vị đã từng trò chuyện với Ngài chưa? Quí vị đã từng chứng minh sự hiện diện của Ngài bằng những phương pháp khoa học chưa? Trái lại, nếu quý vị nói không có Đức Chúa Trời, xin hãy xem xét sự vĩ đại của vũ trụ, những kì quan của cả cõi sáng tạo, những lời làm chứng của tất cả những người đã tin Đức Chúa Trời. Quý vị có dám kết luận rằng không có một Đấng tối cao, không có Đức Chúa Trời không? Nhiều câu hỏi chưa được giải đáp như thế cứ vương vấn trong tâm trí tôi hơn hai mươi năm. Nhưng giờ đây, tôi đã được giải phóng khỏi mớ bòng bong nghi ngờ đó, và từ tấm lòng, tôi tuyên bố với quý vị rằng “Có Đức Chúa Trời”. Tôi xin trình bày các bằng chứng sau:

Ý NGHĨA VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI

Đức Chúa Trời mà chúng tôi nói đến là Đấng tối cao, toàn quyền, Đấng đã tạo dựng vũ trụ và mọi vật trong đó, là Đức Chúa Trời chân thật duy nhất. Ngài là đấng tự hữu hằng hữu; là Đấng yêu thương nhất và vĩ đại nhất; Đấng công chính, thánh biệt, khôn ngoan và toàn năng. Ngài hoàn toàn khác với tất cả những ngụy thần mà thế giới đang thờ phượng.

Làm sao chúng ta phân biệt được Đức Chúa Trời chân thật với ngụy thần? Điều này không khó. Chỉ cần suy nghĩ kĩ thì quý vị sẽ rõ. Vì Đức Chúa Trời chân thật là Đấng tối cao, tạo dựng muôn vật, Ngài có cần cư ngụ trong các đền thờ do bàn tay con người làm nên không? Vì Đức Chúa Trời chân thật sở hữu mọi sự, Ngài có cần những lễ vật quý vị dâng lên như thể Ngài thiếu điều gì đó không? Vì Đức Chúa Trời chân thật là Đấng hằng hữu, liệu Ngài có bị mục nát hay đổ bể như những bức tranh điêu khắc hoặc những tượng chạm bằng gỗ không có sự sống không? Vì Đức Chúa Trời chân thật là Đấng vinh hiển, liệu Ngài có ẩn mình sau những miếng vàng, bạc giấy, gỗ và đá để nhận hương khói từ con người không? Vì Đức Chúa Trời chân thật là Đấng công chính, liệu Ngài có tha thứ các sự vi phạm của quý vị chỉ vì quý vị đốt một vài món đồ mã không?

Thưa quý vị, không chỉ có các hình tượng không phải là Đức Chúa Trời mà ngay cả các lãnh tụ tôn giáo cũng không phải là Đức Chúa Trời thật! Họ chỉ là con người và chưa bao giờ tuyên bố mình là Đức Chúa Trời. Nhưng về sau, họ được người ta sùng kính hay được các vua phong làm thần. Việc họ được các vua phong là thần cũng đủ làm bằng chứng họ không phải là Đức Chúa Trời!

Thành khẩn tìm cách phân biệt

Chân thần và ngụy thần

Ngày xưa có một cậu bé người Nhật tên là Taw-Siang Sin. Gia đình cậu thờ nhiều hình tượng, nhưng cậu luôn luôn nghi ngờ về các hình tượng này vì mỗi lần bị ngã, chúng không thể tự mình đứng dậy mà phải cần ai đó dựng lên. Cậu thắc mắc là các hình tượng thậm chí không có một chút sức mạnh nào để tự đứng lên thì làm sao có quyền tối cao nắm giữ sự sống con người? Nhưng tên gọi của những hình tượng đó thì thật hấp dẫn: Thần vàng hay Thần may mắn, Thần trường thọ, Nữ thần từ bi nghìn tay nghìn chân. Thậm chí cũng có những thần đặc biệt chăm sóc trẻ em. Mỗi lần Taw-Siang Sin ngã bệnh, mẹ cầu phủ phục trước hình tượng này để xin ban phước cho con mình mau bình phục. Và còn nhiều thần khác nữa. Người ta nói rằng nếu dâng một chén cơm mỗi ngày thì những thần thượng này sẽ ban bình an cho quý vị mỗi ngày. Nhưng Taw-Siang đào một cái hố dưới đất và chôn bức tượng đó xuống, rồi thầm nguyện: “Lạy thần tôn kính, nếu ngài có thể tự mình ra khỏi hố này thì con sẽ thờ phượng ngài. Nhưng nếu ngài thậm chí không thể tự giúp mình thì làm sao bảo vệ con được? Xin ngài cho phép con thử Ngài” Taw-Siang kiên nhẫn quan sát và chờ đợi. Một sáng nọ, bỗng nhiên cậu nhìn thấy một mầm xanh vươn lên ngay từ cái hố nhỏ đó. Tò mò, cậu nhẹ nhàng gạt chỗ đất phủ trên bước tường và thấy nó nằm đúng tư thế như khi câu chôn xuống. Nó không di chuyển dù chỉ một chút. Nhưng có một hạt sống bị mắc kẹt trong bàn tay của bức tượng;  và bởi sức nóng mặt trời và nước mua nên hạt giống ấy đã nảy mầm và nhú lên thành một cây xanh nhỏ. Taw-Siang nhìn vào bức tượng đồng mà cả nhà cậu luôn luôn quỳ lại. Cậu lấy làm kinh ngạc vì sức mạnh của nó thậm chí không thể so sánh với một hạt giống nhỏ đang nảy mầm!. Cậu không bao giờ quên được bài học đó. Và từ đó, cậu tha thiết tìm kiếm ý nghĩ của đời sống con người để biết liệu có một Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật không. Và nếu không có Đức Chúa Trời, cậu muốn hiểu vũ trụ bắt nguồn từ đâu

Sau vài năm, khi Taw-Siang được mười tám tuổi, cậu vào một trường đại học Tokyo. Một ngày nọ, cậu mở một cuốn sổ tay địa lí, và câu đầu tiên nói rằng “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên các tầng trời và trái đất”. Đây là câu trả lời cho mọi thắc mắc của cậu về trời và đất! Ở Nhật, có nhiều đền miếu đẹp được xây trên núi, và những người mộ đạo đi đến đó để đốt hương vì họ nghĩ rằng có nhiều thần linh cư ngụ trên những ngọn núi này. Nhưng không người nào đã tìm thấy Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng các tầng trời và trái đất. Taw-Siang đã viết ra một lời cầu nguyện từ trong lòng cậu rằng: “gửi Đức Chúa Trời là Đấng chưa biết, nếu Ngài có mắt, xin hãy đoái xem con; nếu Ngài có tai, xin hãy lắng nghe con; xin dẫn dắt con đến với Ngài”. Đức Chúa Trời đã trả lời cầu nguyện của cậu như cậu mong đợi

Vào năm 1864 Taw-Siang đang tìm cách đến Boston, nước Mỹ. Một thuyền trưởng tên là Hardy có nghe về cậu và sai người đưa cậu xuống tàu. Thuyền trưởng này là người yêu mến Đức Chúa Trời; ông đã trả lời nhiều câu hỏi của Taw-Siang. Ông cũng tặng cậu một cuốn Kinh Thánh. Khi Taw-Siang mở Kinh Thánh ra, câu  đầu tiên viết rằng: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên các từng trời và trái đất”. Ông hardy coi Taw-Siang như con ruột. Ông gửi cậu vào học Đại học Ani-mist và trường Thần học Underway, và trả học phí cho cậu. Sau khi Taw-Siang tốt nghiệp, cậu trở về Nhật và điều hành một trường Đại học Cơ Đốc để rao giảng phúc âm của Chúa. Vì thế, chúng ta thấy rằng phân biệt giữa Đức Chúa Trời chân thật và ngụy thần là điều không khó đối với một người thành tâm tìm kiếm Đức Chúa Trời

Người tù trưởng Mã Lai

Cách đây hơn một thế kỉ, có một tù trưởng ở bán đảo Mã-Lai, là người thờ nhiều hình tượng cách sùng kính.. Một ngày nọ,  khi đang sửa một vài bộ phận bị vỡ của các hình tượng, bỗng nhiên ông dừng tay và kinh ngạc về sự khéo léo của bàn tay con người. Ông bảo vợ xem xét nhiều điều mà bàn tay con người có thể làm được và sự vượt trỗi rõ ràng của chúng so với những bàn tay vô dụng của các hình tượng không có sự sống. Hơn nữa, ông cũng suy nghĩ về sự khôn ngoan và tài năng của con người là điều có giá trị hơn nhiều so với những con rối và những bức tượng được là bằng tay này. Rồi ông la to lên rằng: “Thật ngu xuẩn khi chúng ta đi thờ phượng những thần giả như thể chúng có thể giúp đỡ chúng ta!” Vợ ông cũng đồng ý và thú nhận rằng bà thường nghĩ giống như vậy. Vì thế họ quyết định phá bỏ tất cả các hình tượng mình đã làm và không bao giờ thờ chúng nữa

Nhưng khi trở về căn phòng trước đây đã đặt các hình tượng, họ cảm thấy trống trải và bối rối, không biết sẽ thờ phượng đấng nào bây giờ. Người tù trưởng bảo vợ rằng: “Chắc chắn ở trên con người, có một Đấng lớn hơn, một Đấng tối cao, đã dựng nên con người, trái đất và các vì tinh tú. Chúng ta hãy đến và thờ phượng Đấng vĩ đại nhất này trong vũ trụ!” Và từ đó họ luôn vào căn phòng trống đó và hướng lòng về trời. Ba mươi năm nhanh chóng trôi qua. Một ngày nọ, Kinh Thánh đã được đem đến bán đảo Mã Lai. Chỉ lúc đó, cặp vợ chồng này mới biết Đức Chúa Trời chân thật được nói trong Kinh Thánh là Đấng tối cao trong vũ trụ mà họ đã từng thờ phượng. Rồi họ vui mừng tiếp nhận Cứu Chúa Jesus.

Kinh Thánh nói rằng người có lòng thuần khiết sẽ thấy Đức Chúa Trời. Để phân biệt giữa Đức Chúa Trời chân thật và ngụy thần là không khó. Người ta chỉ cần khiêm nhường tìm kiếm Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống thì sẽ tìm được Ngài

Các loại người vô thần khác nhau

Người vô thần có thể được xếp vào năm loại khác nhau:

Loại thứ nhất có thể được gọi là những người vô thần hiện đại. Loại người này xem mình là người của thời đại mới. Họ tự cho mình suy nghĩ tân tiến hơn và có khả năng hơn người khác. Họ lảng tránh việc thừa nhận có Đức Chúa Trời vì sợ người khác chế giễu là mê tín; điều này sẽ làm tổn hại hình ảnh của họ. Thực ra, loại người này chỉ nói bằng miệng rằng không có Đức Chúa Trời nhưng chưa bao giờ nghiên cứu kĩ lưỡng xem thật sự có Đức Chúa Trời không.

Loại thứ hai có thể được gọi là những người vô thần tự lừa dối. Họ không tin có Đức Chúa Trời không phải vì họ đã chứng minh được điều đó nhưng vì họ có cách ăn ở hay cư xử tồi tệ kín giấu nào đó. Họ ước muốn không có Đức Chúa Trời, cũng như tên cướp ước muốn không có cảnh sát, học sinh ước muốn không có giám thị, tội phạm ước muốn không có luật pháp. Không phải vì họ thật sự tin vào một điều gì đó là không tồn tại mà vì cách ăn ở của họ làm họ không muốn tin. Khi một  người nói với quý vị rằng không có Đức Chúa Trời, hãy nắm lấy tay người ấy và hỏi: “Bạn ơi, đạo đức của bạn như thế nào?” Tôi tin rằng nhiều người vô thần là không có đạo đức. Khi Đức Chúa Trời vắng bóng thì sự trái đạo đức sẽ hiện diện

Có lần, nhà truyền giáo, người Mỹ tên là Dewey đang rao giảng phúc âm thì có một sinh viên đến với ông và nói: “Tôi đã từng tin Đức Chúa Trời nhưng bây giờ thì không còn tin nữa”.

Ông Dewey hỏi: “Tại sao em không tin nữa?”

Cậu ấy trả lời: “Vì khi vào đại học, kiến thức của tôi được nâng cao rất nhiều do đọc sách và vì thế tôi đã loại bỏ Đức Chúa Trời”.

“Xin đừng lừa dối tôi”, ông Dewey nói, “Tôi cũng tốt nghiệp đại học và thậm chí cũng đã lấy bằng tiến sĩ. Tôi đã đọc khá nhiều sách nhưng chưa bao giờ tôi loại bỏ Đức Chúa Trời. Em phải có một lí do đặc biệt nào đó để không còn tin Đức Chúa Trời nữa. Tôi xin hỏi, đạo đức của em như thế nào đến nỗi em không tin còn Đức Chúa Trời nữa?”

Sinh viên này thật thà trả lời: “tôi thừa nhận rằng đạo đức của tôi bây giờ tệ hơn trước”.

“Tôi không cần lí luận với em hay đưa ra nhiều bằng chứng rằng có Đức Chúa Trời”, ông Dewey đáp lại: “Hãy xa lánh những việc xấu, và một khi đạo đức của em được nâng cao thì chắc Đức Chúa Trời sẽ đến”.

Đây là sự thật. Nhiều người không tin Đức Chúa Trời không phải bì bất cứ lí do quan trọng nào mà vì có vô số tội ngăn cản họ tin Ngài.

Những người này giống như đà điểu Châu Phi. Đà điểu Châu Phi là một loại chim khổng lồ không biết bay. Chuyện kể rằng nếu có ai đuổi loại chim này, khi đó chạy mệt và không có chỗ nào để trốn, nó liền dùng chân đào một cái lỗ dưới đất và vùi đầu xuống, cho rằng không thấy kẻ thù là an toàn! Ngay cả một đứa bé cũng biết rằng kẻ săn bắt nó vẫn còn đó và thân thể to đùng của nó vẫn đang lồ lộ! Nhưng ai nghĩ trong lòng rằng tốt nhất là không có Đức Chúa Trời thì giống như loại đà điểu này. Quý vị có thể tin loại suy nghĩ này không? Thế thì thực sự có phải là không có Đức Chúa Trời không?

Loại thứ ba là những người vô thần không chịu thừa nhận rằng mình có thể sai lầm. Ngoài việc nhất định không có Đức Chúa Trời, nhóm người này không đưa ra lí do nào khác. Miệng họ ngoan cố; một khi đã nói điều đó, họ không bao giờ thay đổi. Một khi đã nói, họ không bao giờ rút lại. Ngay cả khi quý vị dành ba ngày, ba đêm để giải thích rõ với người ấy rằng có Đức Chúa Trời, chính người ấy cũng biết mình sai, nhưng họ vẫn cứng cỏi, vẫn còn lời để nói và không chịu phục. Họ kiên quyết tin nơi chính mình, không bao giờ chịu khiêm nhường và cẩn thận xem xét những điều người khác nói là có lí hay không, có đáng tin hay không. Lí lẽ của họ được quyết định một cách áp đặt, tùy tiện, và chỉ để thắng cuộc tranh luận

Loại thứ tư là những người vô thần chuyên nghiệp. Do địa vị của họ nên những người này không thể tin có Đức Chúa Trời. Vì mang danh là một khoa học gia, hay mang tiếng là một nhà giáo dục, đi đầu trong việc lên án sự mê tín, làm thế nào họ có thể chấp nhận ý tưởng là có Đức Chúa Trời? Nhưng nếu họ thật sự chạm đến lòng họ và tự tra vấn, chắc chắn họ không dám tuyên bố cách tự tin rằng không có Đức Chúa Trời!

Loại thứ năm có thể được gọi là những người vô thân có lí trí. Những người này biết lẽ phải hơn, với một thái độ đúng đắn hơn. Khi quý vị đưa những lí lẽ và sự kiện, họ sẵn sàng lắng nghe. Nhưng loại người vô thần như vậy thì có được bao nhiêu? Rất ít! Thật ra, không ai có thể thật sự nói rằng họ đã nghiên cứu kĩ vấn đề này và kết luận rằng không có Đức Chúa Trời. Quý vị có thể chỉ cho tôi một người như thế không? Người đó có thể chứng minh cách chắn chắn rằng Đức Chúa Trời chưa bao giờ hiện hữu trong quá khứ hay hiện tai không? Thật ra, nếu một người nghiên cứu kĩ lưỡng, họ sẽ trở thành người hữu thần! Vì Đức Chúa Trời rằng: “Ai tìm thì gặp, ai gõ thì được mở cho” (Mat 7:8)

Ai dám nói không có Đức Chúa Trời

Cách đây nhiều năm, tại một quốc gia nọ công bố rằng không có Đức Chúa Trời, có ba khoa học gia đã được mời làm diễn giả giữa một quảng trường. Vị thứ nhất là một nhà thiên văn. Ông ta tuyên bố: “tôi đã dùng viễn vọng kính để nghiên cứu các ngôi sao hơn hai mươi năm. Nhưng tôi chưa bao giờ thấy Đức Chúa Trời. Vì thế, chắc chắn rằng không có Đức Chúa Trời”

Khán giả nồng nhiệt vỗ tay khen ngợi. Vị thứ hai là một bác sĩ y khoa là người chống đối sự tồn tại của linh hồn con người. Ông ta nói: “Tôi đã giải phẫu hơn một trăm xác chết nhưng không bao giờ khám phá được linh hồn con người nằm ở đâu. Nó nằm ở trong tim, trong não hay trong máu? Tôi đã giải phẫu tất cả nhưng chưa bao giờ tìm thấy. Vì thế chắc chắn không có linh hồn”.

Lại một tràng pháo tay như sấm vang dội. Vị thứ ba là một nữ tiến sĩ đạo đức học. Bà quả quyết “Sự qua đời của một người như một ngọn đèn tắt. Mọi sự đều chấm dứt khi người ấy chết. Chắc chắn không có những điều như thiên đàng, địa ngục, sự sống đời đời và sự phán xét. Tôi đã đọc tất cả các sách từ quá khứ cho đến hiện tại, cả trong nước và ngoài nước, và chưa bao giờ thấy một cuốn sách nào ghi lại điều đó”.

Khi ba khoa học gia nói xong, vị chủ tọa tuyên bố “Ai chưa hài lòng với những điều ba vị tiến sĩ đã trình bày, có thể đưa ra ý kiến”.

Sau một hồi lâu chờ đợi, một bà cụ nhà quê đứng lên. Cụ đi lên bục, hướng về vị tiến sĩ thứ nhất và nói: “Ông đã dùng kinh viễn vọng hơn hai mươi năm. Vậy có bao giờ ông thấy gió không? Gió có hình gì?

Nhà thiên văn bắt bẻ: “Làm sao có thể thấy gió bằng kính viễn vọng?”

Cụ già tiếp tục “vậy gió có tồn tại không? Ông không thể nhìn thấy gió bằng viễn vọng kính thì có phải như vậy là không có gió không? Chỉ vì không thấy Đức Chúa Trời bằng kính viễn vọng mà ông dám nói là không có Đức Chúa Trời sao?

Nhà thiên văn không nói được lời nào. Rồi bà cụ hướng về vị tiến sĩ thứ hai và hỏi “Ông có yêu vợ không?”

“Vâng, có”, Vị bác sĩ y khoa trả lời.

Bà cụ tiếp lời: “Xin hãy để tôi dùng chiếc dao mổ của ông để mổ ông ra xem tình yêu ông dành cho vợ nằm ở đâu. Nó ở trong bao tử hay trong gan?”

Đám đông cười phá lên. Bà cụ liền quay sang nữ tiến sĩ đạo đức học, nói rằng: “Có bao giờ bà đọc cuốn sách này chưa? Cuốn sách này được gọi là Kinh Thánh. Chẳng phải cuốn sách này nói rõ rằng con người phải chết một lần, sau đó là sự phán xét sao? Chẳng phải cuốn sách đó cũng nói rằng ai có Con Đức Chúa Trời (là Jesus Christ) thì có sự sống; ai không tin sẽ bị đinh tội sao? Đừng nghĩ rằng chết là hết. Bà nên biết rằng các vấn đề sau cái chết còn dài hơn và nhiều hơn những vấn đề trong đời sống này! Khi bà còn ở trong bụng mẹ, nếu ai nói với bà: “Khi bạn được sinh vào thế giới này, sẽ có mặt trời, mặt trăng, núi non và sông suối, và bạn cần phỉa ăn và mặc”, bà có tin không? Tôi xin nói với bà, thế giới đời đời cũng như vậy”.

   Buổi họp vô thần kết thúc với kết quả hoàn toàn khác,

  “Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: chẳng có Đức Chúa Trời. Chúng nó đều bại hoại, đã làm những việc gớm ghiếc; Chẳng có ai làm điều lành.  Đức Giê-hô-va từ trên trời ngó xuống các con loài người, Đặng xem thử có ai khôn ngoan, Tìm kiếm Đức Chúa Trời chăng. Chúng nó thay thảy đều bội nghịch, cùng nhau trở nên ô uế; Chẳng có ai làm điều lành, Dầu một người cũng không” (Thi thiên 14:1-3)

Trương Úc Lam (Đài Loan).

oooooooo

Một lần nọ, có một khoa học gia hỏi một vận động viên: “Anh cao bao nhiêu? Anh nặng bao nhiêu?”

Người ấy trả lời: “Tôi cao 1,8 mét và nặng 80 ký”

Khoa học gia hỏi thêm: “Nếu thân thể của anh bị nén cho đến khi không có một khoảng trống nào ở giữa, thì anh sẽ bị nén tới điểm nào?”

Vận động viên ước đoán: “Còn tối đa là 7 phân đến 10 phân”

“Tôi e rằng sẽ không bằng một mũi kim”, khoa học gia nói “Cần phải dùng kính phóng đại để xem!”

Hãy suy nghĩ con người thật nhỏ bé biết bao. Khi so sánh với vũ trụ mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng, con người thậm chí cũng không bằng một con kiến. Ý thức của con người chỉ tùy thuộc vào 5 giác quan với mức độ giới hạn của chúng. Âm thanh quá lớn hay quá nhỏ, màu sắc và mùi vị quá nhạt hay quá tinh vi, con người đều không thể phát hiện ra được. Tuổi thọ của con người quá ngắn, chỉ 70 đến 80. Có nhiều nơi con người chưa hề đến, và những nơi con người đến thì rất ít. Kiến thức của tâm trí con người giống như con kiến; tư tưởng của con người giống như con ruồi. Một khi thân nhiệt tăng một độ, con người trở nên chóng mặt. Nếu tăng một độ nữa, con người  bệnh liệt giường. Nếu tăng thêm ba độ, con người bất tỉnh. Nếu tăng 4 hay 5 độ, con người sẽ chết. Thế thì làm sao con người yếu đuối và ngu dại dám nói chắc chắn rằng không có Đức Chúa Trời? Quý vị có hiểu được tại sao con người ăn cơm trắng và rau xanh nhưng lại mọc tóc đen, da vàng, răng trắng, môi đỏ và móng cứng không? Quý vị có biết tại sao tóc trên đầu lại mọc rất dài trong khi lông mày thì ngắn? Nếu lông mày cứ mọc dài, không phải nó sẽ che mất đôi mắt và cản trở thị lực sao? Quý vị có biết điều gì sẽ xảy ra vào ngày mai không? Vậy thì làm sao quý vị dám nói là không có Đức Chúa Trời?

Quý vị có biết mặt trời lớn chừng nào không? Nếu mặt trời trống rỗng, nó có thể chứa được 1.3 triệu hành tinh bằng trái đất.  Nhưng theo các nhà thiên văn học, trong không gian có hàng tỉ hành tinh lớn hơn mặt trời. Tốc độ ánh sáng là 300.000 km/giây, tương đương 186.000 dặm/giây. Ánh sáng đi được bao nhiêu dặm trong một ngày, một tháng và một năm? Khó mà tính được. Nhưng một số nhà thiên văn nói rằng ánh sáng của một số ngôi sao phải trải qua một quảng đường bằng 100.000 năm trước khi chạm đến trái đất! Nếu như vậy, chúng ta thật sự không biết vũ trụ này lớn biết chừng nào. Đối với một người cao chỉ 1,8 mét và ngang không hơn 9 tấc mà dám nói rằng không có Đức Chúa Trời thì thật là ngạo mạn và dại dột nhất trên thế giới này

Ba người mù và một con voi

Một ngày nọ, có ba người mù chưa từng thấy voi trong đời mình, nghe nói rằng ở nơi kia có một con voi. Họ đến đó để xem chúng như thế nào. Người mù thứ nhất chạm đến bụng con voi và reo lên “Lạ quá! Con voi giống như những cái trống lớn trong đền! Nó thật trơn và tròn”

Người mù thứ hai nói “Để tôi cũng thử xem”. Ông ta sờ vào cái chân khổng lồ của con voi và nói: “không, anh sai rồi, con voi giống như những cái cột trong một cung điện lớn”

Người mùa thứ ba tiến đến và sờ cái vòi con voi. Ông ta tuyên bố: “Cả hai anh đều sai! Con voi giống như cái kèn lớn”

Nhiều khi sự hiểu biết của chúng ta về Đức Chúa Trời cũng bị giới hạn như ba người mù đã cố gắng giải thích những điều ngoài phạm vị hiểu biết của họ

Ba con kiến

Một ngày nọ, có ba con kiến bàn bạc với nhau. Một con nói “Tôi nghe nói có một loài gọi là người, sống trên đất, có thân thể to lớn và mạnh mẽ. Chỉ có một cử động, họ có thể chà nát 10 triệu con kiến chúng ta. Chúng ta hãy đi tìm xem loài người thật sự như thế nào?

Chẳng mấy chốc, chúng bò lên một người đang ngủ. Con thứ nhất trèo lên bụng và đi vòng quanh. Con thứ hai thăm dò mái tóc. Con thứ ba trèo lên chân. Khi ba con kiến trở lại, chúng bàn bạc với nhau. Con trèo lên bụng nói: “Con người giống như cái bánh hấp lớn”. Con đã thăm dò mái tóc nói: “Sai rồi! Con người giống như khu rừng”. Con thứ ba bò lên chân không đồng ý: “Hai bạn đều sai! Con người giống như cá ướp muối nặng mùi!” Sự hiểu biết của chúng ta về Đức Chúa Trời thường giống như sự hiểu biết của kiến đối với con người. Con người xem chính mình khôn ngoan nhất trong các tạo vật. Nhưng so sánh với Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên muôn loài, con người thật quá tầm thường!. Con người coi chính mình là loài có đầu óc khoa học, nhưng Đức Chúa Trời xem con người chỉ có bộ não của kiến!

Nhiều người nói rằng: “Tôi không thể thấy Đức Chúa Trời hay chạm được Đức Chúa Trời. Do đó, không có Đức Chúa Trời”. Nhưng quan điểm này có hợp lí không? Cái la bàn chỉ hướng Bắc hoặc hướng Nam; mặc dù không thể thấy được lực đã tạo ra điều đó, nhưng người ta biết rằng phải có một lực từ đã hút nó về một hướng nào đó. Có ai đã từng thấy điện? Nhưng từ hiệu quả của điện, chúng ta biết sự hiện hữu của nó. Không khí không màu, không mùi đã tồn tại trên trái đất này rất lâu, nhưng con người chỉ khám phá ra điều đó cách đây 500 năm. Vi khuẩn nhỏ nhất chỉ được nhìn thấy sau khi con người chế tạo ra kính hiển vi. Cách đây 500 năm, con người đã phủ nhận sự tồn tại của không khí. Cách đây 200 năm, con người cũng phủ nhận sự hiện hữu của vi khuẩn, và cách đây một trăm năm, con người không biết đến sự tồn tại của điện. Nếu sự tồn tại của một điều gì đó mà chỉ được quyết định bởi giác quan con người, thì điều đó sẽ luôn luôn sai lầm!

Một số người nghĩ rằng tin Đức Chúa Trời là mê tín và phải khoa học. Ông Cairo đã tổ chức một cuộc khảo sát ba trăm khoa học gia lớn trong thế kỉ trước để xem họ có tin Đức Chúa Trời không. Kết quả cho biết 38 người không biết chắc, 20 người không tin và 242 người tin có Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa là 92% các khoa học gia được khảo sát đã tin sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Người Đức nổi tiếng về khoa học. Giữa các trường đại học Đức, trung bình cứ bốn khoa khác nhau thì có một khoa thần học. Anh và Mỹ là những nước khoa học phát triển. Các vị vua và tổng thống của hai nước này đều đặt tay lên Kinh Thánh để tuyên thệ với Đức Chúa Trời trong lễ nhậm chức. Do đó, chúng ta thấy rằng khoa học và Đức Chúa Trời không đối kháng nhau. Thật ra, nhiều quốc gia hiện đại và nhiều học giả đã tôn kính và thờ phượng Đức Chúa Trời.

Một số người hỏi: “Nếu có Đức Chúa Trời, sao Ngài không dùng cách đơn giản để bày tỏ chính Ngài cho chúng ta thấy và tiếp nhận? Vâng, Đức Chúa Trời khao khác con người biết Ngài, tin Ngài và giao tiếp với Ngài. Nhưng có hai nguyên tắc trong sự giao tiếp; trước hết là sự tương đồng với nhau trong sự sống; thứ hai là sự tương đồng trong bản chất. Sự sống khác nhau không thể có sự giao tiếp, giống như con người không thể giao tiếp với gà. Khác nhau về bản chất cũng không thể kết giao với một người thô lỗ, đần độn. Đức Chúa Trời có sự sống thần thượng và bản chất thánh khiết, công chính, sự sáng và tình yêu. Chúng ta có sự sống con người và bản chất ganh tị, tham lam, bẩn thỉu và tối tăm. Vì Đức Chúa Trời và con người quá khác nhau, làm sao cả hai có được sự giao tiếp? Ngay cả một người thánh khiết như Môi-se cũng không thể nhìn xem mặt Đức Chúa Trời, huống chi là chúng ta! Đức Chúa Trời biết rằng con người sẽ chết nếu thấy Ngài, nhưng Đức Chúa Trời muốn con người biết Ngài. Do đó, Ngài đã dùng phương cách khác để hoàn thành điều đó. Những chủ đề tiếp theo sự đề cập đến một số cách để chúng ta hiểu được là có Đức Chúa Trời. Thưa các độc giả quý mến, tôi hi vọng rằng quý vị sẽ khiêm nhường tìm kiếm Ngài.

CHƯƠNG 2

TRẬT TỰ CỦA VŨ TRỤ CHỨNG MINH SỰ

HIỆN HỮU CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

 

 

 

 

Sự mênh mông của vũ trụ

Mắt thường chỉ nhìn thấy đến 6.000 ngôi sao. Nếu dùng viễn vọng kính với ống kinh sơ cấp có đường kính 5 mét trên núi Palomar của Mỹ, người ta có thể thấy 3 triệu dải ngân hà, với mỗi dải có 5 triệu định tinh, phần lớn trong số đó có kích thước bằng 10.000 lần mặt trời và sáng hơn mặt trời một ngàn lần.

Sự rộng lớn của thái dương hệ

Nhìn vào các vì sao trong đêm tối, người ta thấy những vì sao nhỏ bé nhấp nháy yếu ớt như thể ánh sáng của nó sắp tàn. Nhưng những ngôi sao này lớn hơn mặt trời rất nhiều. Ngôi sao gần trái đất nhất có tên là sao Thất Tinh (Pleiades- thuộc chòm sao Kim Ngưu). Tốc độ ánh sáng là 300.000 km/ giây , và trong một giây nó đi được 8 vòng trái đất. Ánh sáng từ sao Thất Tinh phải đi một quảng thời gian bốn năm bốn tháng trước khi chạm đến trái đất. Kích thước của nó lớn hơn mặt trời 200.000 lần. Mặt khác, sao Thiên Lang (Dog-star) có khoảng cách xa trái đất là 8,5 năm ánh sáng. Sao Bắc Đẩu cách xa trái đất 40,5 năm ánh sáng

Sự hùng vĩ của dải ngân hà

Dải Ngân Hà được tạo nên bởi vô số hành tinh. Vì khoảng cách của nó so với trái đất là rất xa, nên mắt thường chỉ có thể thấy được một dải sáng màu trắng. Thế nhưng dải Ngân Hà chỉ là một trong 3 triệu ngân hà trong không gian. Thật sự thì vũ trụ rộng lớn như thế nào? Không ai biết. Với tầm nhìn này, người ta nhận thức rằng toàn thể nhân loại chỉ là những đàn kiến trên một hòn núi lớn. Quý vị có dám nói là không có Đức Chúa Trời không?

Sự chuyển động đồng bộ hiển nhiên

Không có một tí xáo trộn nào trong trật tự, góc độ, và tốc độ chuyển động của các hành tinh, với mỗi hành tinh quay theo quỹ đạo của nó. Người ta có thể tính được khi nào thì hai vì sao gặp nhau một cách chính xác đến năm, tháng, ngày, giờ và địa điểm, thậm chí một trăm năm trước khi điều đó thật sự xảy ra! Quý vị có dám nói rằng không có một Đấng nào đang điều khiển vũ trụ này?

Mặc dù trái đất lớn, nhưng nó chỉ là một phần của Thái Dương hệ; và Thái Dương hệ chỉ là một phần của dải Ngân Hà; và dải Ngân Hà chỉ là một phần của toàn bộ các thiên thể. Trái đất cùng với mặt trăng quay xung quanh mặt trời tốc độ là 30km/giây. Mặt trời cùng chín hành tinh của nó quay quanh sao Thất Tinh với tốc độ 150 tỉ dặm một năm. Sao Thất Tinh quay xung quanh một trung tâm không tên; trung tâm không tên này quay xung quanh trung tâm các thiên thể. Vô số dải Ngân Hà sáng chói và rực rỡ đang quay tròn trong không gian. Điều này không kì vĩ sao? Trật tự vĩ đại của vũ trụ tạo cho con người một sự kinh ngạc thú vị về một hiện tượng hùng vĩ như vậy.

Nguyên tử nhỏ bé lạ thường

Giả sử, cứ mỗi giây chúng ta lấy ra được một triệu nguyên tử từ đầu một cây kim, thì phải mất đến 283 triệu năm để lấy ra từng nguyên tử một! Mặc dù nguyên tử nhỏ bé như vậy nhưng mỗi nguyên tử thì lại giống như thái dương hệ với hạt nhân ở trung tâm và các electron xoay quanh hạt nhân với một tốc độ đáng kinh ngạc. Chúng ta có thể cảm thấy rằng một miếng thép hay miếng đồng là không chuyển động, nhưng thật ra mọi dạng vật chất đều đang ở trong trạng thái có động lượng. Nguyên tử quá nhỏ đến nỗi không thể được khám phá bằng kính hiển vi nhưng nó sở hữu một năng lượng làm con người sửng sốt

Nguyên tử nhỏ bé và các thiên thể to lớn đều được kiểm soát bởi cùng những luật như nhau. Chúng ta có thể nói điều này là ngẫu nhiên không? Vũ trị kì diệu này được hình thành như thế nào? Mọi học giả đều tin rằng vũ trụ chắc chắn có một sự khởi đầu vô cùng kì diệu.

Những triết gia suy nẫm về sự khởi đầu của trời và đất đã đưa ra triết lí rằng vũ trụ là sự trừu tượng hóa của chân, thiện, mỹ. Những khởi đầu của vũ trụ có thật sự là trừu tượng không?

 

Khởi đầu của vũ trụ có phải là sản phẩm của một ý tưởng nào đó không?

Hay vũ trụ được tạo nên bởi một Đấng có thân vị, quyền năng và có suy nghĩ. Một số triết gia nghĩ rằng mọi vật trong vũ trị bắt nguồn từ ý tưởng: “Tôi tư duy nên tôi tồn tại”. Họ tranh luận rằng vật chất tồn tại vì tôi tồn tại; vật chất không tồn tại vì tôi không tồn tại. Nhưng xin cho tôi hỏi, nếu quý vị sinh ra bị điếc, chẳng lẽ âm nhạc bị loại bỏ khởi thế giới sao? Nếu quý vị sinh ra bị mù, chẳng lẽ bông hoa, cây cối, chim chóc và các loại thú đều bị xóa bỏ cả sao? Nếu quý vị sinh ra không có mũi, chẳng lẽ hương vị của hoa lan và hạt tiêu đều thay đổi cả sao? Nếu quý vị không được sinh ra, chẳng lẽ mọi điều trong vũ trụ này sẽ trống rỗng cả sao? Không có gì ngạc nhiên khi nhiều người theo thuyết duy linh cực đoan đã mất trí hay tự tử.

Vũ trụ có tự hiện hữu không?-rồi

Một số khoa học gia cho rằng nguồn gốc của vũ trụ là theo luật tự nhiên. Nhưng luật tự nhiên không có ý chí. Chúng là sản phẩm của sự sáng tạo, không phải là Đấng Sáng Tạo; chúng là sản phẩm, không phải là Chủ của sản phẩm. Luật phải được duy trì bởi một uy quyền để nó có hiệu lực và có thể được thi hành. Từ nó, luật không có uy quyền. Cái được gọi là luật tự nhiên chỉ là một gia đình

Một lần nọ, một khoa học gia đang giải thích cho sinh viên của mình về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Một sinh viên hỏi cách ngạo mạn: “Vũ trụ này đã xuất hiện như thế nào? Xin ông trả lời theo cách khoa học”.

“Đức Chúa Trời đã tạo nên nó” khoa học gia trả lời.

Sinh viên này bắt bẻ: “Ai tạo nên Đức Chúa Trời?”.

“Đức Chúa Trời là Đấng tự hữu và hằng hữu, là Đấng Tạo Hóa chứ không phải là tạo vật” khoa học gia giải thích.

Sinh viên này không thỏa lòng: “Điều đó phi khoa học”.

Vì biết rõ ý tưởng của sinh viên này nên khoa học gia hỏi:

“Em nghĩ rằng trái đất từ đâu mà ra?”

Khoa học gia tiếp tục: “Và mặt trời từ đâu mà có?

-“Từ các tinh vân” một câu trả lời nhanh chóng.

Khoa học gia hỏi tiếp: “Tính vân từ đâu mà có?”

Đến đây, cậu sinh viên ngập ngừng. Cuối cùng cậu buột miệng: “Nó đến cách tự nhiên”.

-“Tự nhiên từ đầu mà có?”

Cậu sinh viên nổi giận: “Tự nhiên là tự nhiên. Nó đến cách tự nhiên”

Khoa học gia cười, nói: “Điều đó có khoa học không? Tôi bảo em rằng nguồn gốc của vũ trụ là Đức Chúa Trời và em nói tôi mê tín, độc đoán và phi khoa học. Nhưng em nói rằng vũ trụ đến cách tự nhiên. Chẳng phải em cũng mê tín, độc đoán và phi khoa học sao?- rồi  trở lên--

Newton, khoa học gia vĩ đại—

Newton là người sốt sắng tin Đức Chúa Trời. Ông có một người bạn cũng là một khoa học gia nhưng là người vô thần. Một ngày nọ, Newton làm mô hình thái dương hệ. Ở trung tâm là mặt trời được mạ vàng và xung quanh mặt trời đó là các hành tinh được sắp xếp theo quỹ đạo riêng. Khi kéo một cái cần, các hành tinh sẽ quay quanh quỹ đạo của chúng cách hài hòa hoàn hảo. Một ngày nọ, người bạn này đến thăm ông và thấy mô hình. Sau khi chơi với nó một lúc, ông lấy làm lạ và hỏi lớn: “Ai làm vậy?” Newton trả lời: “Ồ, không ai cả. Nó ngẫu nhiên xuất hiện”.

Người bạn phản đối: “Chắc chắn ai đó đã làm ra nó, và người đó phải là thiên tài”.

Vào lúc đó, Newton vỗ nhẹ vai bạn mình và nói: “Ông bạn ơi, anh không thể tin rằng cái mô hình đơn giản này ngẫu nhiên xuất hiện mà không có ai thiết kế hay làm ra; nhưng anh lại nói rằng vũ trụ bao la, thực hữu này xuất hiện cách tự nhiên mà không có một Đức Chúa Trời tạo nên. Điều đó có hợp lí không?”

Người bạn bị khuất phục, và kể từ đó, ông tin sự hiện hữu của Đức Chúa Trời.

Nếu ai đó giảng rằng: “Tòa nhà lớn này không có ai thiết kế và không có ai làm ra. Nó xuất hiện theo các luật tự nhiên. Trước đây, nơi này là sa mạc. Nhưng cách đây nhiều ngàn năm, một trận gió lớn đã thổi đến, mang theo gạch và ngói. Sau nhiều năm nữa, những dòng nước chảy qua, đem theo các loại gỗ. Rồi trải qua nhiều thời kỳ, trời bỗng đổ vôi và xi măng xuống. Cuối cùng, sau nhiều thế hệ, một trận động đất rung chuyển, và tất cả gạch đá rơi vào một chỗ để trở thành những cây trụ và các bức tường. Và khi trái đất chuyển động hơn nữa, các núi rúng động, gỗ và ngói được ném lên trời và trở thành mái nhà. Và đó là cách tòa nhà lớn này được tạo nên”. Quý vị có tin loại thuyết giảng này không? Chỉ một ngôi nhà mà còn không thể tự hiện hữu bởi những luật tự nhiên, huống chi là vũ trụ?

Trước kia, có một ông chủ là người vô thần, và một người đầy tớ tin Đức Chúa Trời. Một ngày nọ, hai người đi du ngoạn và nghỉ lại trong một nhà trọ. Khi đang tán chuyện với nhau, họ thảo luận về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Người đầy tớ đưa ra nhiều lí do để chứng minh Đức Chúa Trời hiện hữu, nhưng người chủ vẫn không tin. Sau cuộc thảo luận khá dài, người chủ nói: “Hãy để ta chạm đến Đức Chúa Trời thì ta sẽ tin! Nếu không, ta sẽ không bao giờ tin”.

Nổi cáu, người đầy tớ nghĩ ra một cách. Khi người chủ đi ngủ, người đầy tớ lặng lẽ ra sân, dùng lòng bàn tay tạo ra những dấu vết trên đất, giả làm dấu chân lạc đà. Sáng hôm sau, người chủ thức dậy thấy “những dấu chân” trong sân, ông gọi người đầy tớ và hỏi: “Có phải tối qua lạc đà đến đây không?”

“ Không”, người đầy tớ trả lời.

“Chắc chắn là có lạc đà đến đây tối qua”, người chủ khăng khăng.

“Không, không có”. Người tôi tớ xác nhận một lần nữa.

Người chủ la lên: “Ngươi không thấy các dấu chân trên sân sao? Chắc chắn lạc đà đã đến!”.

Vào lúc đó, người đầy tớ trả lời: “hãy để tôi chạm đến lạc đà thì tôi mới tin chúng đã đến”.

Người chủ giận dữ nói: “Đồ ngu! Những dấu chân này không đủ chứng cớ để nói rằng lạc đà đã ở đây sao?”

Người đầy tớ nhỏ nhẹ chỉ ra: “Kìa, ông chủ. Mặt trời ở phía đông đang mọc lên ở chân trời, và bầu trời được tô điểm bằng các áng mây hồng của bình minh. Hoa đang nở và chim đang hót. Tất cả những điều này chứng minh rằng Đức Chúa Trời hiện hữu. Tất cả những chứng cớ này không đáng tin hơn dấu chân lạc đà sao? Tôi có thể giả mạo dấu chân lạc đà, nhưng không ai có thể giải mạo vũ trụ này được! Tại sao ông không tin, thưa ông chủ yêu dấu?”.

Ông chủ không nói một lời. Không có gì ngạc nhiên khi nhà thiên văn và toán học vĩ đại Kepler, người đã dành trọn cuộc đời nghiên cứu thiên văn, toán học và vật lí, đã kết luận rằng: “Người không tin Đức Chúa Trời là ngu dại”.

Một học thuyết sai lầm cho rằng vũ trụ ngẫu nhiên xuất hiện. Vũ trụ này có thể nào ngẫu nhiên xuất hiện không? Chúng ta biết rằng các sự kiện ngẫu nhiên là hú họa, không thể báo trước được, và đột xuất. Quý vị có thấy bất cứ điều gì trong thế giới này xuất hiện do ngẫu nhiên không? Ngay cả một cái khăn tay cũng không xuất hiện do các sợi vải ngẫu nhiên bện lại hay nhựng sợi chỉ ngẫu nhiên dệt lại. Kinh Thánh, với sáu mươi sáu sách, có một thứ tự đặc biệt. Nếu đó là một sự trùng hợp ngẫu nhiên thì xác suất để điều đó xảy ra là M=m! là 1x2x3x4x5x6x7….x66 = 545 x 1090 – xác xuất của chỉ một lần trong 545 với 90 số 0 ở sau! Điều đó có thể xảy ra không?

Một câu chuyện có thật

Có một người vào một xí nghiệp sản xuất dụng cụ xay thịt bò của Mỹ. Chiếc máy nhỏ này được dùng để xay thịt bò thành những sợi mịn. Người này đến thăm người chủ xí nghiệp và chẳng mấy chốc họ đã thảo luận về việc vũ trụ được hình thành như thế nào. Người chủ xí nghiệp nói: “Vũ trụ này phải được Đức Chúa Trời toàn năng, toàn trí sáng tạo nên”.

“Không có Đức Chúa Trời trong vũ trụ này”, người bạn tuyên bố. “ Vũ trụ này ngẫu nhiên hình thành”.

Người chủ xí nghiệp không tranh luận với bạn. Ông dẫn bạn đi vòng quanh xưởng và giải thích: “Hãy nhìn dụng cụ để xay thịt bò kìa. Cái dụng cụ nhỏ này chỉ có 8 bộ phận. Bây giờ chúng ta hãy đặt 8 bộ phận này và một số đinh ốc vào trong một cái hộp bằng gỗ. Hãy lắc cái hộp theo cách anh muốn và trong khoảng thời gian anh muốn, và hãy xem thử cái dụng cụ xay thịt bò có xuất hiện do ngẫu nhiên không! Tôi biết chắc rằng cho dù anh có lắc như thế nào thì cái máy xay cũng không thể được tạo ra!”.

Người chủ xí nghiệp tiếp tục: “Có hàng trăm công nhân ở đây, trong xí nghiệp này. Những người có kỹ năng hơn có thể ráp hơn 200 cái một ngày. Những người chậm nhất sau khi được chỉ dạy một vài ngày, cũng có thể học để ráp. Nhưng nếu cứ tiếp tục lắc cái hộp gỗ thậm chí cả tháng hay cả năm, anh cũng không thể ráp được dù chỉ một cái! Vậy, nếu một dụng cụ nhỏ bé chỉ đáng giá 3,7 đô-la cũng không thể ngẫu nhiên hiện hữu, huống chi là vũ trụ rộng lớn này?”

Có thể nói cách thiết thực như vậy cho mọi vấn đề. Một cái quần hay cái áo không thể được tạo ra chỉ bởi tập hợp những miếng vải, kim, kéo, chỉ, và thước lại, với hi vọng rằng mọi sự sẽ ngẫu nhiên vào đúng vị trí của nó. Quý vị có mong chờ một người mù sẽ ngẫu nhiên viết nên một bài văn khi chỉ được cho những kiểu sắp xếp ý tưởng? Quý vị có thể mong chờ người đó ngẫu nhiên tạo ra một bức tranh bởi chỉ cho anh ta 5 cây bút chì màu? Chúng ta có thể nào nói rằng không có Đấng Tạo Hóa trong một vũ trụ hết sức trật tự và được kiểm soát chặt chẽ này không?

Có phải vũ trụ này được hình thành bởi tinh vân?

Thuyết này trái với các nguyên tắc khoa học. Tinh vân là vật chất không có sự sống, và những vật không có sự sống không thể trở thành những vật có sự sống. Nói rằng mọi vật sống được tiến hóa từ a-míp lại cũng vi phạm nguyên tắc khoa học vì không học thuyết nào ủng hộ sự tiến hóa của một cấu trúc đơn giản (a-míp) trở thành một cấu trúc phức tạp (con người). Một người không thể có một giạ lúa (khoảng 36 lít) từ một thùng lúa (khoảng 9 lít), hoặc là mua gạo mà không có tiền. Trước khi gà con từ trứng nở ra, đòi hỏi một sự chuẩn bị sẵn sàng cho gà con có một sự bức phá cuối cùng khỏi vỏ của nó. Nhà vật lí vĩ đại Hertz có lần đã nói: “Để tạo ra nhiệt, vật chất phải biến đổi từ thể phức tạp sang thể đơn giản. Hiện tượng hao mòn được nhìn thấy từ chất uranium sang radium, từ radium sang nhiệt, và từ nhiệt sang chì. Quá trình này là từ phức tạp đến đơn giản. Đây là nguyên tắc căn bản của vật lí”. Do đó, vũ trụ này không thể tiến hóa từ trạng thái đơn giản sang trạng thái phức tạp.

Vũ trụ này giống như một cái máy lớn. Máy móc vận hành theo thời gian đã thiết lập vì có bộ phận hoạt động. Con thuyền đang đi một hướng nào đó là vì có bánh lái. Chiếc máy lớn này lại không có một Đấng điều hành hoàn vũ sao? Vũ trụ này có hệ thống riêng của nó là một nguyên tắc. Quý vị có thể nào nói rằng không có một Đấng Tối Cao đã thiết lập và duy trì nguyên tắc này? Chúng ta khẳng định rằng các nguyên tắc được thiết lập dựa trên hai điều kiện tiên quyết: sự tồn tại của trí lực, và sự nở hữu quyền lực. Trí lực dùng để hoạch định và phác thảo những quy định; còn quyền lực là để thực hiện và giám sát các quy định. Trong một quốc gia hay trong một trường học, có luật nào mà không phải qua trí lực hay không được thực hiện bởi quyền lực không? Uy quyền để quản trị vũ trụ này đến từ đâu? Có phải ở trong vũ trụ, tức là một vật thuộc về vũ trụ không? Chắc chắn là không. Điều đó phải đến từ ngoài vũ trụ. Nếu thấy một cánh diều bay trên bầu trời, quý vị không tin rằng phải có ai đang kéo sợi dây dù quý vị không thấy sợi dây? Chúng ta không thể nói Đấng thiết lập và thực hiện các nguyên tắc trong vũ trụ, Đấng quản trị vũ trụ, là Đức Chúa Trời sao? Tóm lại, dù mô tả nguồn gốc vũ trụ như thế nào đi nữa chúng ta cũng biết rằng sự khởi đầu của vũ trụ phải liên quan đến một năng lượng cực lớn, giống như việc lên dây cót đồng hồ để rồi sau đó nó tự chạy. Thật đáng để chúng ta hỏi: “Ai đã lên dây cót cho vũ trụ này?”

Khi một khoa học gia khám phá ra một ngôi sao mới hay luật tự nhiên mới, cả thế giới tán dương sự thành công của ông và kiến thức mới khám phá này. Tuy nhiên khoa học gia đó đã không tạo ra ngôi sao hay là luật thiên nhiên đó; ông chỉ khám phá ra chúng. Vì thế, thật mỉa mai thay chúng ta lại không đếm xỉa đến Đấng tạo ra các vì sao hoặc khăng khăng cách bướng bỉnh rằng không ai thiết lập các luật tự nhiên cả!

Cho dù có vô số vật trong thế giới, nhưng về căn bản chỉ có một trăm nguyên tố tạo nên tất cả những điều đó. Chẳng hạn, về phương diện hóa học, muối được cấu thành gồm hai yếu tố là Natri và Clo. Nước được hình thành bởi 2 nguyên tố hóa học là hy-đờ rô và ô –xy. Đường có 3 nguyên tố: bột có 16 nguyên tố. Giống như Anh ngữ, dù có hàng ngàn từ nhưng chỉ được hình thành bằng việc ghép 26 chữ cái. Cũng vậy, dù vũ trụ với vô số vật được tạo nên, thì cũng được hình thành bởi sự kết hợp của một trăm nguyên tố ấy. Về phương diện hóa học, hình dạng và màu sắc của vũ trụ này đều được hình thành bởi sự kết hợp của một vài nguyên tố. Một lần nữa, thật đáng để chúng ta hỏi: “Ai là nhà hóa học toàn tri của vũ trụ này?”

Để bất cứ điều gì đó được thực hiện, cần phải có hai điều kiện tiên quyết: 1) phải có công cụ; và 2) phải có trí thông minh. Để một người nghĩ ra một công thức toán, trước hết phải có 10 con số làm công cụ; rồi phải có trí thông minh để sắp xếp các con số theo cách thích hợp để giải quyết bài toán đó. Vấn đề cũng như thế với văn chương. Tiếng Anh có 26 chữ cái là công cụ. Tự chính những chữ đó chỉ là các biểu tượng không có ý nghĩa. Nhưng khi dùng trí thông minh để tạo những chữ cái đó thành từ và thành văn thì chúng ta có nghĩa. Hãy nhìn vào các kì quan của vũ trụ, có thể nào nói rằng không có một Đấng toàn trí đã tạo ra tất cả những điều đó từ một trăm nguyên tố bởi sự khôn ngoan của Ngài không? Hãy xem xét ngày và đêm, trăng non và trăng tròn. Chúng có thời hạn chính xác và xác định của chúng. Bốn mùa trong năm: Xuân, Hạ, Thu, Đông không bao giờ thay đổi trong suốt hàng ngàn năm qua. Mặt trăng quay quanh trái đất và trái đất quay quanh mặt trời. Mỗi vật đều có quỹ đạo và thời gian xác định. Nếu chỉ chênh lệch mỗi ngày một giây, điều đó có thể dường như quá nhỏ, nhưng nó sẽ tạo chênh lệch 600 giờ trong sáu ngàn năm qua! Chúng ta đã không có một ngày 24 giờ, mà là một ngày 624 giờ! Không có người chăm sóc vườn hoa, thì chắc chắn nó sẽ hoang dại. Nếu thấy một khu vườn với bông hoa sum suê và cây cối nằm giữa một khuôn viên sạch sẽ và gọn gàng, chắc chắn quý vị sẽ kết luận rằng có một người làm vườn chăm sóc nơi này. Có thể không thấy chính người làm vườn nhưng quý vị biết rằng, ở đó, có ông ấy. Do đó, chúng ta có thể kết luận rằng vũ trụ bao la, hùng vĩ này chắc chắn phải có một Đức Chúa Trời là Đấng quản trị và điều khiển

Vì Đức Chúa Trời sáng tạo ra vũ trụ, nên một số người có thể hỏi: “Ai tạo ra Đức Chúa Trời?” Quý vị có thể nói từ một trăm. Một trăm đến từ đâu? Quý vị có thể nói từ số mười. Số mười đến từ đâu? Quý vị có thể nói trừ số một. Nhưng số một đến từ đâu? Có lẽ quý vị không có câu trả lời. Thế thì, có phải một điều nào đó không tồn tại chỉ vì quý vị không biết nó từ đâu đến không? Loại bò sát có khả năng nhận biết được mặt phẳng hai chiều nhưng không nhận biết được không gian (chiều thứ ba). Con người không chỉ nhận biết được ba chiều, mà còn biết thời gian (chiều thứ tư). Vật sống bậc thấp không thể hiểu được nguồn gốc của vật sống bậc cao hơn. Điều đó cũng đúng giữa con người đối với Đức Chúa Trời. Giống như gà hỏi chó: “Người chủ cho chúng ta ăn mỗi ngày từ đâu đến?” Quý vị có nghĩ rằng chúng biết không? Nếu biết, chúng thực ra phải là con người! Mặc dù chúng không biết người chủ đến từ đâu, nhưng chúng không thể cho rằng chủ của chúng không hiện hữu. Sự hiện hữu của một vật và sự hiểu biết về vật đó là hai điều khác nhau. Cây cối có sự sống nhưng nó không thể biết con người đến từ đâu. Con khỉ không thể giải một bài toán hình. Nó biết một vài con số nhưng không phải mười con số. Cũng vậy, làm thế nào một Đức Chúa Trời là Đấng tạo nên mọi loài? Nếu biết được nguồn gốc của Đức Chúa Trời thì Đức Chúa Trời không còn là Đức Chúa Trời nữa! hoặc có lẽ quý vị là Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Trời đích thực là Linh; Ngài không được làm nên bởi vật chất hư nát. Trước khi tạo dựng mọi vật, trước cõi thời gian. Ngài đã hiện hữu. Ngài không có khởi đầu, trước cõi thời gian. Ngài đã hiện hữu. Ngài không có khởi đầu. Giả sử chúng ta có một đoàn tàu lửa ở đây. Toa cuối chuyển động do toa trước kéo, và toa trước được toa trước nữa kéo. Bằng cách này, toa đầu tiên phải tự đẩy, nó có sức mạnh của riêng nó; nếu không cả đoàn tàu sẽ không thể chuyển động. Cũng vậy, Đức Chúa Trời- Đấng sáng tạo ra mọi điều – phải tự hiện hữu. Nếu sự hiện hữu của Ngài cũng đến từ nguồn khác, thì cả vũ trụ này sẽ không được hình thành. Mặc dù chúng ta không biết nguồn gốc của Đức Chúa Trời, nhưng theo kinh nghiệm và lí luận, chúng ta không thể phủ nhận sự hiện hữu của Ngài. Có quá nhiều sự việc mà chúng ta không biết nguồn gốc nhưng không thể nói rằng chúng không hiện hữu. Do đó, Kinh Thánh bảo rằng Đức Chúa Trời có thể được nhận biết rõ, và được hiểu bởi những vật được tạo dựng nên, do đó chúng ta sẽ không có một sự biện hộ nào.

CHƯƠNG 3

NHỮNG ĐIỀU KÌ DIỆU CỦA CÕI THỌ

TẠO CHỨNG MINH SỰ HIỆN HỮU CỦA

ĐỨC CHÚA TRỜI

Chúng ta không thể nghiên cứu hết những điều kì diệu của cõi thọ tạo. Nếu đến “Viện Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên” quý vị sẽ quan sát các mẫu vật của mọi loại chim, thú và côn trùng. Hãy chú ý đến màu sắc để chúng có sự tự vệ. Khi mùa đông đến, chúng mặc chiếc áo khoác màu trắng để tương thích với màu tuyết trắng xung quanh nhằm ngụy trang tránh kẻ thù. Chúng bắt chước màu sắc của các vật xung quanh để bảo vệ chính mình. Quý vị có biết tại sao chim sẻ thường có lưng nâu và bụng trắng không? Vì khi chúng nhảy nhót trên đất, con người thấy lưng nâu của nó, được ngụy trang giống như màu đất; và khi bay, con người thấy bụng nó, được ngụy trang giống như màu trắng của trời. Con sâu bướm cải trang giống như một nhánh cây con khi nằm nghỉ trên cây. Con bướm nằm nghỉ bất động trên cây với đôi cánh xếp lại trông không khác gì chiếc là. Hải âu giấu trứng giữa đống đá ven bờ biển để chỉ có mắt nhà nghề mới thấy được trứng chúng. Trong rừng nhiệt đới, con cọp oai vệ với những vằn đen, thoát được sự phát hiện vì mặt trời rọi bóng lá tre và cỏ dại rất giống sọc đen của cọp. Một loại bướm đêm màu vàng nhạt làm tổ trên cây bạch dương mục trông giống như gỗ mục của cây bạch dương. Tất cả những loại côn trùng này có khả năng ngụy trang tuyệt vời. Chúng có thể tìm thấy một cái đốm lí tưởng nhất trên vỏ cây giống với màu sắc của chúng và nhẹ nhàng gắn chặt mình vào đó và lăn khỏi nguy hiểm khi đối mặt với kẻ thù. Một số côn trùng giả dạng một số loại trái đắng làm cho các loài chim bắt mồi từ bỏ ý định tấn công chúng

Chúng ta không thể nói hết những điều kì diệu của thiên nhiên. Nhện là loài côn trùng có mặt ở mọi nơi. Khi ruồi hay côn trùng rơi vào mạng nhện, chúng không thể thoát ra được cho dù có cố gắng bao nhiêu vì độ dính của mạng nhện. Làm thế nào một con nhện với bộ não nhỏ như thế lại biết được những điều bí ẩn này? Điều đó nói lên sự khéo léo và khôn ngoan của Đấng làm ra nó! Có một loại nhện khác có kích thước như một hạt đậu. Con nhện nhỏ này có khả năng nâng một vỏ sò lên cao 20 mét khỏi mặt đất để dùng làm tổ che chở con mình!. Trọng lượng của vỏ sò đối với nhện tương đương với một người nâng khối thép 10 tấn lên cao 1 mét! Thật là một kì công không dễ thực hiện. Trước hết, con nhện tìm một nhánh cây thích hợp để treo vỏ sò. Rồi nó dệt mạng nối một đầu tơ với nhánh cây và đầu kia với một đầu của vỏ sò. Khi mạng đã khô, nhện tiếp tục dệt thêm mạng để giữ đầu kia của vỏ sò với đầu còn lại được nâng lên trên mặt đất đến độ cao mong muốn để trở thành chỗ ở an toàn và vững chắc và ở đó, nó sẽ chăm sóc nhện con. Làm thể nào một con nhện nhỏ bé có thể hoàn thành một công việc lớn lao như vậy, và trong quá trình đó, nó đã áp dụng các nguyên tắc vật lí cần thiết như vậy?

Ông Hoàng là trưởng Đài Thiên văn Khí tượng Đài Loan. Ông quan sát thấy dự báo thời tiết bằng cách quan sát những gì loại nhện làm còn chính xác hơn nhiều so với việc tin cậy vào dự báo của đài. Ông Hoàng giải thích rằng: “Trước khi bão đến, nhện liền gom mạng lại chỉ để vài sợi tơ. Khi bão đi, nó lại tiếp tục giăng mạng. Mỗi khi nhện gom mạng lại thì bão chắc chắn đến. Trái lại, đôi khi trạm thời tiết dự báo bão, nhưng bão không bao giờ đến”. Ông Hoàng kết luận: “Tôi kém xa một con nhện!”

Con mèo nhảy từ trên tường xuống thì tiếp đất bằng chân—Rồi

Theo nguyên tắc vật lí, do thân thể nặng hơn tứ chi, nên lẽ ra mèo nhảy xuống phải bị lật úp. Các khoa học gia không hiểu hiện tượng này cho đến một ngày nọ, họ quay video cảnh một con mèo nhảy từ trên tường xuống. Khi quay chậm lại họ thấy rằng khi con mèo nhảy, đuôi nó bắt đầu quay nhanh giống như cánh quạt máy bay. Điều này tạo sức nặng và sự cân bằng của thân thể nặng nề của nó để đáp thẳng xuống đất bằng chân mà không bị lật úp. Có phải con mèo thiết kế khả năng riêng của nó không? Chắc chắn rằng sự khôn ngoan mà chúng ta thấy trong động vật phản ánh sự hiện diện của Đấng Tạo Hóa là Đấng ban cho chúng khả năng để sinh sản, nhân rộng và thoát khỏi tuyệt giống.

Hãy xem xét con cá hồi

Sau khi ở trong đại dương một thời gian dài, nó vẫn có thể tìm đường để trở về với con sông mà trước đây nó đã ở. Bất chấp dòng chảy và bơi ngược thủy triều, chú cá hồi vẫn tìm ra đường để đến dòng suối nhỏ cho đến khi dẫn tới nơi nó được sinh sản. Nó làm điều đó như thế nào? Nếu bỏ nó trong một dòng suối khác, nó sẽ biết nó đang đi sai đường và sẽ tìm cách quay trở lại dòng chảy cho đến khi tìm được nơi đến cách chính xác, không hề lầm lẫn.

Con lươn biển thì hoàn toàn ngược lại

Lươn biển được sinh ra trong biển sâu nhưng lại sống ở trong sông và hồ. Đến tuổi trường thành, chúng có thể vượt hàng ngàn dặm từ Châu Âu đến vùng biển sâu Bermuda, Trung Mỹ châu để ở chung với những con khác. Ở đó chúng đẻ trứng và chết lúc tuổi già. Những con lươn mới đẻ không có công cụ hải hành, nhưng thật kinh ngạc vì chúng lại tìm ra đường đi từ đại dương mênh mông, vượt qua nhiều bờ biển để trở về sông, hồ mà cha mẹ chúng đã ở trước kia. Do đó, trong mọi con sông đều có lươn. Chúng không bao giờ đi lạc đường. Lươn Mỹ trở về Mỹ; lươn Châu Âu trở về Châu Âu! Đây là lí do vì sao người ta không bao giờ bắt được lươn Mỹ ở Châu Âu, hay lươn Châu Âu ở Mỹ! Hơn nữa, Đấng Tạo Hóa đã thêm hai năm cho cuộc sống của lươn biển Châu Âu, bù lại cuộc hành trình dài để chúng không bao giờ trở về quá trễ và sẽ không bao giờ đẻ trứng dọc đường! Nếu không có Đức Chúa Trời, ai sẽ chịu trách nhiệm cho những sự sắp xếp như vậy?

Đom đóm phát sáng như thế nào?

Tại sao đom đóm cái không phát ra ánh sáng? Đom đóm đực phát ra ánh sáng như dấu hiệu giao phối để hấp dẫn con cái. Ai đã làm điều này?

Kiến tìm đường đi như thế nào?

Khi kiến đi ra tìm thức ăn, chúng đi theo hai con đường: một đường đi đến đích, và một đường trở về. Làm sao chúng biết đi đường nào? Làm sao chúng biết đi đường nào? Làm sao chúng phân biệt được đường đi và đường nào về? Tiến sĩ Sansi một nhà động vật học, khám phá ra rằng, khi đi, kiến đã thải ra các chất hóa học dọc đường. Chúng tiết ra hai loại chất khác nhau cho mỗi lối đi để phân biệt lối về và lối đi. Điều này có tuyệt diệu không?

Cảm nhận phương hướng của loài chim nhỏ bé

Khi vượt đại dương, chúng ta cần mọi loại bản đồ hàng hải và dụng cụ hải hành để giúp định hướng; tuy nhiên, đôi khi chúng ta cũng lạc đường. Làm thế nào loài chim nhỏ bé vượt đại dương khi mùa di trú đến mà không bị lạc đường? Vào năm 1939, có một thanh niên tên Beijing, nuôi một con bồ câu ngay trước khi anh được đưa đến một bệnh viện ở xa để phẫu thuật. Một buổi tối nọ, anh thấy một con bồ câu vẫy cánh ngoài cửa sổ. Anh vội vàng bảo y tá mở cửa sổ cho bồ câu vào. Chú bồ câu bay về phía Beijing, và anh kêu lên xúc động: “Hãy nhìn vào chiếc thẻ ở chân nó. Tôi nghĩ nó là bồ câu của tôi, số 167!”. Đúng rồi, số nó là 167. Chúng ta phải thờ phượng Đức Chúa Trời vì Ngài đã ban cho tạo vật nhỏ bé này một khả năng và cảm nhận đặc biệt như thế.

Tò vò chinh phục châu chấu

Tò vò chinh phục châu chấu cũng là một lí thú. Sau khi tò vò đẻ trứng, nó chết sớm và không thể nuôi con. Do đó, trước khi chết, nó chuẩn bị cho điều đó. Trước hết, nó dùng đất để xây một cái tổ nhỏ trên tường nhà. Rồi nó bắt một con châu chấu và đặt vào trong tổ. Tò vò cẩn thận chích vào chỗ thích hợp của châu chấu để nạn nhân chỉ bất tỉnh chứ không chết. Nó không giết châu chấu vì thịt chết sẽ thối rửa và gây hại khi về sau con nó ăn vào bụng. Do đó, thịt châu chấu được bảo dưỡng như thịt muối. Sau đó, tò vò đẻ trứng và bay đến chỗ khác để chết, không bao giờ thấy nó trở lại. Tuy nhiên, vì tò vò mẹ đã chuẩn bị trước mọi sự nên khi trứng nở, tò vò con có thức ăn để ăn. Do đó, chu trình này cứ tiếp diễn và tò vò được gìn giữ không bị tuyệt chủng. Một khả năng bí ẩn như vậy không thể được giải thích bởi sự thích nghi với môi trường. Điều đó, chắc chắn là khả năng bẩm sinh.

Một số người cho điều này là “mã di truyền”, và trả lời bằng những câu quen thuộc. Nhưng xin cho tôi hỏi: thế hệ đầu tiên học khả năng này ở đâu? Và khi đã học được điều này thì nó truyền lại cho thế hệ kế tiếp như thế nào? Một con chó nhà có thể được huấn luyện để biết làm nhiều trò khéo léo; nhưng con của nó không có khả năng đó, nếu không được trải qua cùng một sự huấn luyện khắt khe như vậy. Vậy thì “mã di truyền” được giải thích như thế nào?

Người ta quan sát hiện tượng kì diệu đó không chỉ ở chim muông, thú vật, côn trùng và cá, mà còn trong vương quốc thực vật. Hãy quan sát vỏ đậu Hà Lan thay đổi hình dạng. Khi chín, vỏ nứt làm đôi, có hai hay ba hạt đậu dính mỗi bên. Cái vỏ dần dần khô đi dưới sức nóng của mặt trời và nhanh chóng bị cuốn lại, bắn những hạt đậu ra theo những hướng khác nhau trên đất để mỗi hạt có đủ không gian mọc lên.

Cây phong thật là hấp dẫn. Hai hạt giống mọc lên đồng thời ở hai phía của lớp màng mỏng, tạo ra sự cân bằng. Khi những hạt giống ấy bắt đầu rơi xuống đất, chúng xoay tít như cánh quạt, ném hạt giống ra xa cây mẹ, để mỗi hạt giống đều có đủ đất để nhận ánh sáng mặt trời và nước cần thiết để lớn lên. Rồi--

Trương Úc Lam--

Giá trị của ánh sáng mặt trời.

Mọi vật sống trên đất đều phụ thuộc vào ánh sáng mặt trời để tồn tại. Mặt trời đốt khoảng 4 triệu tấn vật chất mỗi giây để duy trì ánh sáng rực rỡ và sức nóng mạnh mẽ của nó. Nếu đổi lượng ánh sáng mặt trời chúng ta nhận mỗi ngày thành điện, trái đất phải trả 600 nghìn tỉ đô-la mỗi ngày!

Những đặc tính đáng kinh ngạc của nước.

Nước được hình thành bởi hai loại khí. Mọi người đều biết rằng hy-đrô và ô-xy hợp lại tạo thành nước. Để đốt bất cứ chất liệu nào đều phải cần đến ô-xy; mặt khác, hy-đrô là chất rất dễ cháy. Nhưng khi 2 khí này hợp lại với nhau thì tạo thành nước, nước lại có khả năng dập tắt lửa! Điều này có tuyệt diệu không? Hãy xem nước trở nên rất cứng khi biến thành băng; vì thế nói theo lô-gic thì băng phải chìm xuống đáy biển. Nhưng nếu băng chìm, thì khi biển hay sông bị đóng băng, quá trình đóng băng phải bắt đầu từ đáy trở lên. Như thế thì mọi sinh vật biển sẽ chết và bị tuyệt chủng! Thật ra, ở giai đoạn đầu của quá trình đóng băng, nước tuân theo nguyên tắc nén bình thường, các phân tử nước ngày càng trở nên nhỏ hơn. Nếu quá trình co lại này cứ tiếp tục, chắc chắn băng sẽ có tỷ trọng nặng và chìm xuống đáy đại dương, giết chết tất cả các loài tôm, cá. Tuy nhiên, thật lạ lùng, vào thời điểm nhiệt độ xuống đến 40C quá trình co này dừng lại! Và từ 40C đến 00C, các phân tử nước không những nở ra theo kích thước ban đầu của chúng mà còn nở to thêm 3% nữa! Do đó, băng trở nên nhẹ hơn nước, khiến nó nổi lên và làm cho các sinh vật sâu dưới nước có thể sống sót. Ai đã sắp đặt điều này?

Động vật hít vào khí ô-xy và thở ra khí các-bô-nic. Trái lại, thực vật nhận khí các-bô-nic và thải ra khí ô-xy. Chu kì này liên tục diễn ra trong tình trạng cân bằng sinh thái, nơi các hệ sinh vật lệ thuộc lẫn nhau. Chim bay bằng cánh, cá bơi bằng vây, giun bò bằng bụng. Nhụy và nhị hoa tùy thuộc vào ong và bướm để giao phối lẫn nhau. Sóng âm được truyền qua môi trường không khí, còn ánh sáng truyền qua một số môi trường. Không phải mọi con mắt đều được tạo ra giống nhau. Bò và ngựa nhận được hình ảnh khác với thỏ và chuột. Không phải tất cả bao tử đều được tạo ra như nhau. Động vật ăn thịt thường có bao tử nhỏ và hẹp hơn vì thịt tương đối dễ tiêu hóa. Gia cầm thường có bao tử dày và dài hơn vì lúa tương đối khó tiêu hóa. Hơn nữa, bao tử gia cầm đặc biệt được trang bị những phần tử giống như cát để xay, vì thế ngay cả khi chúng nuốt mảnh kiếng cũng không bị nguy hiểm. Còn loài ăn cỏ như bò và nai đặc biệt được trang bị bốn cái bao tử để nhai lại. Có phải tất cả những đặc tính kinh ngạc này là do ngẫu nhiên không?

Điều kì diệu của cơ thể con người. rồi

Khi nghiên cứu cơ thể con người, người ta sẽ kinh ngạc bởi các hệ thống đồng bộ phức tạp nhưng hoàn hảo, đang thực hiện chức năng cách tự động. Bộ não hoạt động như “tổng hành dinh” và tự mở rộng thành nhiều bộ phận khác nhau với các chức năng khác nhau. Tủy sống là một “dây điện” khổng lồ và dày, bắt nguồn từ tổng hành dinh này, phân nhánh thành vô số dây, và những dây này mở rộng hơn nữa thành “mạng lưới điện thoại” tạo nên hệ thống thần kinh để truyền lệnh từ tổng hành dinh. Sau đó, có hai “bộ phận tiếp nhận điện thoại” - tức hai tai, để nhận tin tức từ thế giới bên ngoài; hai “máy chụp hình” – tức hai mắt, để nhận những hình ảnh từ thế giới bên ngoài. Điều kinh ngạc về hai máy chụp hình này là chỉ có một tấm phim mà có thể chụp vô số hình ảnh đầy màu sắc! Và chúng ta có hai phòng thí nghiệm hóa học – khứu giác và vị giác. Chúng ta có một thiết bị bơm đặc biệt – quả tim; một thiết bị lọc tự động – quả thận; một thiết bị tạo nhiệt để bình thường hóa nhiệt độ cơ thể ở 370C; một thiết bị tiêu hóa. Cổ họng con người giống như phong cầm, bộ xương và cơ bắp lại giống như cầu kéo. Quả tim bơm tự động ngày và đêm. Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi điều khiển quả tim và đột nhiên nó quên đập? Ai đã xây dựng các hệ thống máy móc này trong con người?

Hãy xem trường hợp về tai con người. Nó giống như chiếc đàn piano thu nhỏ. Tai ngoài, giống như kèn tiếp nhận, là một đường cong để nhận âm thanh từ mọi phía khác nhau. Có 6.000 dây trong tai trong. Dây dài nhất là nửa mi-li-mét, và dây ngắn nhất chỉ 1/20 mi-li-mét. Mỗi dây đều được lên dây hoàn hảo và có khả năng nhận âm thanh của 40 thang âm. Ngoài ra, còn có 18.000 tế bào đặc biệt với 300.000 dây tinh vi bao gồm các dây thần kinh thính giác, chịu trách nhiệm tạo nên khúc hòa tấu từ những âm thanh khác nhau đã nhận được. Thật là tuyệt diệu!

Nếu nghiên cứu xương con người, quý vị không thể không tin có sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Xương có hai loại: xương cứng và xương sụn. Tai và mũi được làm bằng xương sụn; nếu không, chúng sẽ rất dễ gãy khi va chạm. Trái lại, tứ chi lại được làm bằng xương cứng; nếu không, chúng sẽ không có sức mạnh để đứng và đi. Xương hoặc được thịt bao phủ hoặc được lộ ra. Tất cả các loại xương đều được bao phủ bằng thịt, ngoại trừ răng được để lộ. Nếu răng được bao phủ bằng thịt thì chúng ta sẽ cắn vào thịt mình khi ăn! Và vì vậy, chúng ta thấy rằng xương con người mềm ở những nơi chúng cần mềm, và cứng ở những nơi cần cứng, được bao phủ bằng thịt khi cần thiết, và được để lộ khi không cần bao phủ. Hãy xem xét thêm nữa về sự khác nhau của kích thước các loại xương. Xương sọ giống như một cái hộp; xương sườn giống như những cái que; xương sống thì giống như một sợi xích; xương đùi và ống chân thì giống như những cái ống. Mỗi loại đều có mục đích đặc biệt. Hơn nữa, trong khi xương dường như có sức mạnh, vẻ như rắn chắc, nhưng thật ra chúng có lỗ hổng phía trong, để đủ nhẹ hầu thân thể mang đi được, và có thể tạo nên ống dẫn cho các dây thần kinh, rất giống với các ống bảo vệ dây điện. Ai thiết kế tất cả những điều này? Có phải chúng được tiến hóa? Có phải tất cả đều ngẫu nhiên xảy ra? Hay chính Đấng Tạo Hóa tối cao đã tạo ra chúng?

Hãy xem tóc trên cơ thể con người. Hãy nhìn vào lông mày của quý vị. Trải hàng thập niên, chúng chỉ mọc khoảng 4 đến 5 cen-ti-mét và dừng lại. Nhưng tóc trên đầu thì liên tục mọc thậm chí đến 1.2 mét hay 1.5 mét và còn dài nữa. Nếu lông mày dài đến 1.2 mét hay 1.5 mét chúng sẽ hoàn toàn che tầm nhìn và miệng!. Chiều dài khác nhau của các loại lông tóc thật tuyệt vời biết bao: chúng dài nơi cần phải dài và ngắn nơi cần phải ngắn

Bây giờ hay xem xét tóc (tùy nơi mọc mà gọi là lông) bên ngoài và bên trong. Lông trong ống tai bảo vệ chống lại những côn trùng nhỏ chui vào; nếu mọc bên ngoài thì sẽ không hiện hữu dụng. Lông trong lỗ mũi lọc bụi và cát; nếu mọc bên ngoài, chúng ta sẽ hít quá nhiều bụi vào trong phổi. Râu cằm cũng là một loại tóc. Nếu nó mọc trong miệng thì sẽ bị răng nhai phải và nuốt đi! Nếu lông mi mọc bên trong mí mắt, sẽ đâm vào và làm mù mắt.

Hướng tóc mọc cũng đáng kể ý. Tất cả các loại lông tóc con người đều mọc hướng xuống, chỉ trừ một sợi tóc nhỏ (tóc thịt) trong cổ họng, mọc hướng lên. Khi ho, cái lông này giữ đờm lại và di chuyển đờm lên phía trên cho đến khi được nhả ra khỏi miệng.

Nếu cái lông này hướng xuống, đờm sẽ di chuyển xuống cho đến khi hít kín họng và cản trở việc thở, cuối cùng bị nghẹt thở và chết. Bây giờ hãy nhìn kĩ vào đôi lông mày một lần nữa.Chúng không hướng lên cũng không hướng xuống. Lông mày trái mọc về hướng bên trái, và lông mày phải hướng về bên phải; do đó, tạo thành hai rãnh để ngăn mồ hôi từ trán chảy xuống mắt. Thật là tuyệt diệu!

Hãy nghĩ đến bộ râu. Theo lịch sử từ ban đầu, đàn ông mọc râu và phụ nữ không có. Nhưng giữa các loài thú như mèo, chó, thỏ, và chuột, cả đực và cái đều được sinh ra có râu mép. Thiếu niên không mọc râu cho đến khoảng hai mươi tuổi. Đây là lí do Đức Chúa Trời muốn có sự phân biệt rõ ràng giữa nam và nữ trưởng thành. Khi họ còn nhỏ, không cần một sự phân biệt như vậy; do đó, họ không cần có râu. Nhưng khi họ hoàn toàn trưởng thành, sự phân biệt này là cần thiết để tránh sự lạm dụng. Quý vị có thấy điều này thật tuyệt không?

Xin cho tôi hỏi lại, có phải quý vị thiết kế tất cả những điều này không? Có phải chúng ngẫu nhiên xảy ra? Có phải chúng tiến hóa? Có thể nào lại không có Đấng Tạo Hóa?

Bây giờ hãy xem xét cái mũi con người. Mũi hít vào 17 lần mỗi phút suốt trong 24 giờ mỗi ngày, hay tổng cộng là 24.480 lần mỗi ngày. Nếu mỗi lần hít vào 500ml không khí, thì mỗi người tiêu thụ 12.240 lít mỗi ngày! Mỗi lần thở tạo ra nhiều điều hòa nhiệt độ, điều chỉnh hơi ẩm và lọc bụi. Do đó, ngoài việc thực hiện chức năng, mũi còn là sự phối hợp của 3 “cái máy”: máy điều hòa nhiệt độ, máy điều chỉnh độ ẩm, và máy lọc bụi và vi khuẩn. Nếu nhờ một kĩ sư giỏi nhất để thiết kế cái mũi máy, kết hợp tất cả những chức năng này thì chắc chắn trọng lượng của cái máy đó tối thiểu phải là 25kg, nếu không nói là gần khoảng 45kg! rồi

Hệ thống tuần hoàn

Chúng ta biết rằng kính của xích đạo trái đất dài 40.000 kí lô mét. Nếu nối các mao mạch trong cơ thể con người lại với nhau thì sẽ dài hơn đường kính trái đất 2.5 lần! Đỉnh Everest của dây Himalaya được xem là đỉnh cao nhất thế giới. Nếu huyết cầu trong cơ thể con người được xếp lên nhau từng cái một, thì chúng sẽ cao hơn đỉnh Everest 5000 lần! Mặc dù quả tim con người có kích thước bằng một nắm tay, nhưng lượng máu nó bơm trong 24 giờ là 11 tấn 128 kí lô gam, tương đương với sức tiêu thụ của chiếc máy 140 mã lực để hoàn thành nhiệm vụ đó!

Trục đẩy của xe lửa được làm bằng hợp kim thép, tuổi thọ của nó chỉ giới hạn một khoảng thời gian ngắn vì bị bào mòn. Cánh tay và khuỷu tay con người chuyển động ra vào mỗi ngày trong nhiều thập kỉ mà vẫn ở trong tình trạng tốt. Tứ chi và những phần khác của cơ thể bị mệt mỏi sau cả ngày làm việc và cần phải nghỉ ngơi. Nhưng phổi, tim và vòng tuần hoàn máu của con người không bao giờ ngưng thực hiện chức năng và không cần nghỉ ngơi vì phải làm việc liên tục. Cái đầu thì tròn, ngón chân thì hình vuông, bắp chân thì dài, cái gáy thì ngắn. Núm vú thì ngọt, túi mật thì đắng, bao tử thì chua, mồ hôi thì mặn. Mọi sự đều đúng như chức năng của chúng . Tai, mắt, miệng, mũi tất cả nằm ở những vị trí đúng đắn. Nếu tất cả những điều này là sự trùng khớp ngẫu nhiên, tại sao lông mày không mọc ở dưới mắt? Tại sao mũi không hướng lên trên? Tại sao tai không nằm ở chính giữa lòng bàn tay? Tại sao ngón chân không mọc trên đầu? Chúng ta có thể cải tiến và nâng cấp tạo tác của con người, nhưng không thể cải tiến hoặc nâng cấp tạo tác của Đức Chúa Trời

Mắt con người giống như máy chụp hình. Sáu dây gân của hốc mắt và nhãn cầu giống cầu giống như cái giá của máy chụp hình. Mí mắt giống như lá chắn sáng. Con người giống như bộ phận điều chỉnh ánh sáng, thủy tinh thể giống ống kính, và võng mạc giống phim. Máy chụp hình cần có sự can thiệp của con người để điều chỉnh ánh sáng và khoảng cách, nhưng Đức Chúa Trời làm cho mắt con người có thể tự động điều chỉnh cường độ ánh sáng. Hơn nữa, mắt có thể chụp rõ 16 bức ảnh trong một giây. Ngoài việc chụp hình, mắt có thể tự động rửa phim. Cha thiên thượng đã cung cấp cho chúng ta một cuộn  phim 5 màu vô hạn để chúng ta có thể sử dụng ngày và đêm miễn phí. Ngoài việc chụp hình, mắt cũng có thể phục vụ chức năng thông tin với bộ não. Ngay lập tức mắt truyền mọi điều nó thấy về não để não đánh giá. Rồi não sắp xếp những hình ảnh đã nhận vào trong một “album lớn” là nơi tất cả các bộ nhớ về người, nơi chốn, và sự kiện được lưu trữ, sẵn sàng để truy cập bất cứ lúc nào, hầu chúng ta có thể nhớ lại những cảnh đám cưới hạnh phúc cách đây hàng thập kỉ như thể chỉ mới xảy ra trước mắt. Hãy xem sự khôn ngoan và kì diệu về sự sáng tạo của Đức Chúa Trời!

Hãy xem xét việc sắp xếp vị trí cho những bộ phận

 khác nhau của cơ thể

Có lần tôi suy nghĩ về việc đặt mũi trên đỉnh đầu của mình. Theo cách này nó sẽ hoạt động như ống khói, dễ dàng nhận và nhả không khí. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu trời mưa? Hãy nếu tôi đội nón vào mùa đông hay mùa hè thì điều gì xảy ra khi tôi bịt kín không khí vào mũi? Khi chúng ta ăn, thức ăn được mũi ngửi trước khi đưa vào miệng. Nếu mũi nằm ở trên đỉnh đầu thì phải đưa thức ăn lên đỉnh đầu rồi mới đưa vào miệng, thật lộn xộn quá đi mất!

Tôi cũng có lần suy nghĩ, thật là lãng phí đặt cả hai mắt hướng về phía trước. Đặt một mắt phía trước và một mặt phía sau sẽ không tốt hơn sao? Nhưng làm sao người ta có thể ngủ, khi một mắt bị đè xuống gối cách khó chịu? Tôi cũng nghĩ rằng có lẽ có lông mày trên mắt thì hoàn toàn không cần thiết. Cho chúng mọc ở ngón tay trỏ để làm luôn chức năng bàn chải đánh răng, có tốt hơn không? Nhưng điều gì xảy ra khi tôi chảy mồ hôi nhiều vào mùa hè và không có lông mày để ngăn cản chất mặn không chảy vào mắt tôi? Sau khi suy nghĩ về tất cả những điều này, tôi kết luận rằng sự thiết kế của Đức Chúa Trời là siêu việt!

Khi nhìn một cái bàn, chúng ta biết rằng phải có một người thợ mộc làm ra. Khi nhòn một ngôi nhà, chúng ta biết rằng phải có một kiến trúc sư thiết kế và xây dựng. Chỉ tập hợp  tất cả gỗ, gạch, hồ, và ngói lại với nhau không thể làm được cái nhà; phải có người thiết kế và xây dựng. Bây giờ, sau khi đạ thấy được sự kỳ diệu của cõi thọ tạo, chúng ta có thể nói không có một Đấng thiết kế, không có Đức Chúa Trời không? Quý vị thân hữu kính mến, xin hãy cầu nguyện: “Ô Đức Chúa Trời! xin thương xót tội nhân mù lòa và khờ dại này”

Công việc của bàn tay con người đối kháng với

sự sáng tạo của Đức Chúa Trời

Quý vị có bao giờ nghiên cứu một tác phẩm nghệ thuật của con người bằng kính phóng đại chưa? Một bức họa nổi tiếng chỉ được tạo nên bởi những mảng và đốm sơn thô. Nếu quan sát kĩ một tác phẩm điêu khắc, nó không trơn tru và bằng phẳng cách hoàn hảo. Lưỡi gươm sắc bén thật ra là gồ ghề như răng cưa. Công việc của con người chỉ đến được vậy. Nhưng nếu quan sát kĩ sự sáng tạo của Đức Chúa Trời bằng cách dùng kính hiển vi mạnh nhất để nhìn vào cây cối, lá, hoa, cỏ, thú vật…. với mọi phức tạp của chúng ta, quý vị sẽ kinh ngạc về sự tinh vi và hoàn hảo của chúng ta. Có một loại vỏ sò nhỏ xíu như cái đầu kim. Nó nằm giữa những hạt cát trên bờ biển. Nếu quan át nó dưới kính hiển vi, quý vị sẽ kinh ngạc về vẻ đẹp sắc sảo từ kiểu dáng và màu sắc. Chỉ một vật tầm thường như vỏ sò nhỏ mà Đức Chúa Trời cũng đã đoái hoài đến để trang trí nó cách thật tài tình. Ngàu cũng tạo nên hàng tỉ vì sao lơ lửng sáng chói và lấp lánh trong vũ trụ uy nghi, bất tận này để biểu lộ tài khéo vĩ đại của Ngài. Tại sao quý vị không sẵn lòng tin?

CHƯƠNG 4

NHU CẦU BẨM SINH CỦA CON NGƯỜI

CHỨNG MINH SỰ HIỆN HỮU

CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Trên thế giới có hàng trăm loại người và hàng trăm ngôn ngữ khác nhau. Trong tất cả các ngôn ngữ khác nhau đó, một số tư liệu có thể bị thiếu, nhưng tư liệu “Đức Chúa Trời” thì luôn luôn có. Theo lô gic, một điều phải hiện hữu thì mới có tên. Do đó, Đức Chúa Trời phải hiện hữu trước khi có tư liệu “Đức Chúa Trời” trong tất cả các ngôn ngữ khác nhau. Hội Địa lí của Mỹ là một tổ chức lớn, đã đến nhiều nơi để khảo sát con người thuộc về những bối cảnh khác nhau. Công trình nghiên cứu của họ đã xác nhận những điều sau đây:

Con người có nhu cầu bẩm sinh thờ phượng Đức Chúa Trời

Cho dù văn minh hay hoang sơ, tiến bộ hay lạc hậu, nhưng tất cả đều giống nhau về điểm này. Bộ lạc Miao kém văn minh  nhưng thừa nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Hầu hết các khoa học gia lớn ngày nau cũng tin sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Do đó, Đức Chúa Trời là đều phổ biến giữa nhân loai!

Vào lúc khảo sát, dân số thế giới đã lên đến 2 tỉ người, có khoảng 1.7 tỉ người, hay hơn 80% tin vào một loại tôn giáo nào đó. Cơ Đốc nhân chiếm 610 triệu; Hồi giáo 210 triệu; Phật giáo 460 triệu. Có 140 triệu người đa thần và Công giáo 370 triệu. Thống kê  này cho thấy rằng thế giới chủ yếu là người hữu thần. Dù đến bất cứ nơi nào, có những nơi là làng mạc thô sơ không luật pháp, không tiền tệ, có những nơi tường và nhà bằng bê tông, nhưng quý vị sẽ không bao giờ tìm được một nơi nào mà không có trung tâm thờ phượng, không có những tín đồ tìm kiếm hạnh phúc và sự bảo vệ khỏi thiên tai, hay những người dâng lễ vật. Quý vị có tới một nơi nào đó mà không có bất cứ đền đài, giáo đường hay thánh đường nào không? Dù đến bất cứ nơi nào, quý vị đều luôn thấy có những người đưa tay lên trời hoặc phủ phục trong sự cầu nguyện. Đây là một bằng chứng mạnh mẽ cho thấy rằng nhân loại có nhu cầu thờ phượng Đức Chúa Trời cách bẩm sinh và phổ biến. Ngôn ngữ và màu da, phong tục và truyền thống, lịch sử và văn hóa có thể khác nhau nhưng nhu cầu thờ phượng Đức Chúa Trời là giống nhau

Một câu châm ngôn Trung Hoa cổ nói: “Cùng tận hô thiên” Thành ngữ này ngụ ý bản năng của con người là kêu Đức Chúa Trời. bản năng như vậy thường bị che gấu khi gặp những vấn đề thông thường,  nhưng khi một người đến chỗ bị đe dọa mạng sống, hoàn cảnh dường như vô vọng thì tự nhiên sẽ lộ ra bản năng sinh của lòng là kêu Đức Chúa Trời. Đây là lí do chúng ta nghe nhiều tiếng kêu trời trong bệnh viện. Khi một người đối diện với hoàn cảnh nguy kịch thì sự tôn kính, bái phục và cầu xin tự động bày tỏ.

Một lần nọ, có một nhà truyền giáo đi qua một khu rừng ở Nam Mỹ và nghe ai đó kêu cứu. Ông vội đến xem. Khi đến gần bờ sông, ông thấy một người trên chiếc ca nô nhỏ đang chống lại dòng nước chảy xiết, dẫn đến một thác nước. Không có sự giúp đỡ nào, người đó và chiếc ca nô của anh ta chắc chắn sẽ rơi xuống thác. Trong giây phút nguy cấp đó, người này tuyệt vọng kêu: “Ô Đức Chúa Trời! Xin cứu tôi! Xin cứu tôi!” Nhà truyền giáo vội vàng tìm cách cứu anh ta. Ngày hôm sau, khi nhà truyền giáo lại đi qua khu rừng đó, ông thấy một đám đông đang tụ tập bên kia sông và có một người đang nói. Ông đến gần để nghe, và thấy rằng người này đang thuyết trình về Đức Chúa Trời, chứng minh rằng không có Đức Chúa Trời

Vào cuối bài thuyết trình người đó nói: “Sau khi trình bày cho quý vị rất nhiều bằng chứng, nếu có ai chưa được thuyết phục,xin phát biểu”

Nhà truyền giáo đi lên bục và nói với đám đông: “Tôi không cần phải tranh cãi với bất cứ ai hay trình bày bất cứ bằng chứng nào nghịch lại. Tôi chỉ kể cho quý vị nghe một câu chuyện. Hôm qua, khi tôi đi ngang qua chính khu rừng này, bên kia bờ sông, tôi nghe một người kêu cứu: “Ô Đức Chúa Trời! Ô Đức Chúa Trời! Xin hãy cứu tôi!” Anh ta kêu cứu thảm thiết. Tôi vội vàng đến xem, và thấy một người trên một chiếc ca nô nhỏ đang bị dòng nước rất mạnh cuốn xuống một dòng thác lớn. Mạng sống anh ta đang lâm nguy. Tôi đã cứu và đưa anh ta về nhà. Ngày nay, cũng người này, chính là người hôm qua kêu Đức Chúa Trời để được giúp đỡ, là người đang nói trước quý vị đây, đang cố gắng thuyết phục quý vị rằng không có Đức Chúa Trời! Điều tôi nói có đúng hay không, quý vị có thể hỏi riêng anh ta”

Tại sao con người kêu la đến Đức Chúa Trời để được giúp đỡ nhưng từ chối sự hiện hữu của Đức Chúa Trời? Bởi vì dù chúng ta là ai, chúng ta đều có nhận thức rằng bẩm sinh về Đức Chúa Trời trong lòng mình. Trong giây phút nguy kịch, con người sẽ tự động tìm kiếm Đức Chúa Trời. Nhưng khi mọi chuyện đã ổn rồi, họ cho những sự kiện đó là tình cờ

Một số người cũng cho rằng khuynh hướng tôn giáo của con người là sự ngu dốt căn bản. Họ nói rằng sự sợ hãi  ban sơ về các hiện tượng thiên nhiên (như sấm sét) và thú dữ làm cho con người tìm kiếm và thờ phượng thần thánh, là điều cuối cùng tiến hóa thành một loại đức tin nào đó về Đức Chúa Trời. Nhưng loại suy luận này lầm lẫn nguyên nhân với kết quả, giống như đặt cái cày trước con trâu. Giả sử tôi thấy một người trên đường và gọi anh ta: “Ông Hoàng! Ông đến khi nào vậy?” Khi người đó quay lại, tôi nhận ra rằng người ấy không phải ông Hoàng. Đúng là tôi đã nhầm lẫn, nhưng thật ra vấn đề như thế này; trước khi nhầm lẫn ông ấy là ông Hoàng thì tôi phải biết một ông Hoàng nào đó rồi. Cũng vậy, con người có thể nhầm lẫn sấm chớp hay thú dữ như Đức Chúa Trời. Nhưng trước khi có thể lầm như vậy, con người phải có khái niệm về Đức Chúa Trời. Quan niệm về Đức Chúa Trời phải có trước việc nhận định các vật thể hoặc thú dữ là Đức Chúa Trời. Khái niệm về Đức Chúa Trời đi trước khuynh hướng tôn giáo của con người

Lương tâm con người chứng minh sự hiện hữu của Đức Chúa Trời.

Khi quý vị phạm tội hay làm điều gì sai, lương tâm có kết án quý vị không? Khi nhớ lại công ơn cha mẹ, vợ con, họ hàng và bạn bè, quý vị không thấy ray rứt sao? Nhiều tội nhân đã từng quen thói hành động liều lĩnh trong đời sống, đã phải hạ mình ăn năn lúc lâm chung. Như một thành ngữ: “Con chim hấp hối hót tiếng sầu thảm; người hấp hối nói lời tốt đẹp”. Đây là bằng chứng mạnh mẽ cho thấy chức năng của lương tâm.

Con người được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời . Dù sa ngã đến đâu, con người vẫn giữ lại một điều gì đó giống Đức Chúa Trời . Điều này được thấy trong lương tâm, là nơi được Đức Chúa Trời  gìn giữ. Vì vậy, dù người ta có phạm tội hay làm ác bao nhiêu, cũng có một ngày, lương tâm thuyết phục họ và khiến họ thấy mình hoàn toàn độc ác và tội lỗi. Chức năng của lương tâm là bằng chứng Đức Chúa Trời  hiện hữu.

 Một bé gái có người cha vô thần và người mẹ là Cơ Đốc nhân. Bé gái không biết cha đúng hay mẹ đúng. Nhưng một ngày nọ, bé lâm bệnh nặng, và nói với cha rằng: “Lòng con lo lắng vì con có thể chết sớm. Con phải biết câu trả lời cho vấn đề về Đức Chúa Trời. Con phải tin cha hay tin mẹ?”

Vào lúc đó, người cha đáng thương mong muốn con gái mình có sự bình an trong tâm hồn, đã trả lời: “Con tin mẹ con đi”

Người ta nói rằng khi một người đến gần cái chết hay sự nguy hiểm, lương tâm liền thức tỉnh. Đây là bằng chứng về việc Đức Chúa Trời đánh thức trong sâu thẳm tấm lòng.

Liều thuốc thử lúc lâm chung.

Có một bác sĩ ở Mỹ chuyên nghiên cứu về tình trạng con người ngay trước khi chết. Dựa trên bốn mươi đến năm mươi năm kinh nghiệm, ông đã viết một cuốn sách có kết luận như sau: “Vào lúc lâm chung, tâm trạng của bất cứ loại người nào chắc chắn cũng trở nên u sầu. Chỉ Cơ Đốc nhân là khác. Trong điều đó, họ rất bình an và thậm chí có thể an ủi các thành viên trong gia đình, vì họ biết rõ về nơi an nghỉ cuối cùng của mình”. Một số người có thể nói rằng điều này hoàn toàn là vấn đề tâm lý. Nhưng nếu như vậy thì tại sao các ngụy thần không thể an ủi con người? Điều đó khẳng định rằng một tôn giáo không có Đức Chúa Trời chân thật làm nền tảng, sẽ không bao giờ an ủi được hồn người hấp hối khỏi sợ chết. Hiệu quả tâm lí có thể lừa dối một thời gian; nhưng nó mất hiệu quả ngay những giây phút quan trọng trong cuộc đời. Cũng như tờ ngân phiếu giả chỉ có thể lừa quý vị một lúc, nhưng nó mất hiệu quả khi quý vị đến ngân hàng để rút tiền.

Bẩm sinh của con người là khao khát Đức Chúa Trời.

Con người có khuynh hướng bẩm sinh, tức sự đói khát bên trong của lòng và linh. Loại đói khát này không thể được thỏa mãn bởi bất cứ điều gì; chỉ bằng cách tin Đức Chúa Trời mới được thỏa mãn. Khi còn trẻ, con người có sự lo lắng trong lòng cùng với những điều quan tâm của tuổi trẻ. Chỉ khi con người tìm được phối ngẫu và được ổn định trong đời sống gia đình hạnh phúc, lòng người mới yên nghỉ. Nhưng ở tận đáy lòng và linh, con người vẫn còn một loại bất an khác mà không thể được thỏa mãn bởi người phối ngẫu hay danh tiếng; dường như không có điều gì trên thế giới này có thể thỏa mãn. Chỉ khi tìm được Đức Chúa Trời, con người mới yên nghỉ. Chỉ khi đó con người mới yên nghỉ giống như em bé tựa vào lòng mẹ. Điều này chứng tỏ rằng con người có sự khao khát bẩm sinh về Đức Chúa Trời. Việc tìm kiếm Đức Chúa Trời từ bên trong tấm lòng đã thúc giục con người, giống như một người khát và đói mong ước có được miếng cơm, hớp nước.

Có một hiện tượng kì diệu là: bất cứ điều gì sâu kín trong lòng khao khát thì có một cơ quan đáp ứng trong cơ thể con người, và có một sự cung ứng tương đương của thế giới bên ngoài để thỏa đáp khao khát đó. Vì thế, chúng ta có mối liên hệ tam diện phụ thuộc lẫn nhau mà một phương diện không thể thực hiện được nếu thiếu phương diện kia. Bên trong quý vị có một mong muốn là đánh giá cao màu sắc đẹp; trong cơ thể quý vị có cặp mắt thiên nhiên để làm thỏa mãn mong muốn này. Bên trong quý vị có ước muốn ăn uống; cơ thể quý vị có cái miệng như cơ quan để nhận thức ăn và bên ngoài là sự cung ứng phong phú, về gia cầm, thị cá, ngũ cốc để làm thỏa mãn sự khao khát đó. Mỗi sự khao khát trong lòng đều tồn tại một đối tượng tương ứng để làm thỏa mãn. Do đó, vì con người có lòng khao khát bẩm snh về Đức Chúa Trời nên có thể nói rằng không có Đức Chúa Trời để làm thỏa khát khao đó không? Nhiều người đã tìm kiếm Đức Chúa Trời trong bản thể thầm của họ và tìm thấy Ngài làm sự thỏa mãn của mình. Tại sao quý vị vẫn còn nghi ngờ sự hiện hữu của Đức Chúa Trời?

Con người không tìm thấy Đức Chúa Trời vì dùng sai cơ quan

Một cơ quan cụ thể chỉ có thể nhận thức được một chiều kích nào đó. Chẳng hạn, để nhận ra được hương hoa thì phải dùng mũi; không thể dùng mắt, tai hay miệng để ngửi mùi thơm. Cùng một nguyên tắc, để tiếp xúc Đức Chúa Trời, không thể dùng mắt, miệng, tay, tâm trí hay mũi để chạm Ngài; con người phải dùng linh để tiếp xúc với Đức Chúa Trời. Vì Đức Chúa Trời là Linh nên con người phải dùng linh như cơ quan đúng đắn để nhận biết Đức Chúa Trời. Nếu dùng linh, chắc chắn quý vị sẽ gặp Đức Chúa Trời. Xin cầu nguyện theo cách này với tất cả lòng chân thành: “Đức Chúa Trời ơi! Xin mở mắt khờ dại của lòng con để con thật sự biết rằng Ngài hiện hữu, để con tin Ngài và tiếp nhận Ngài”. Nếu chân thành cầu nguyện như vậy, quý vị chắc chắn sẽ biết Đấng Tạo Hóa của chúng ta.

Một thí nghiệm chứng minh sự hiện hữu của Đức Chúa Trời

Tôi có một bạn đồng nghiệp tên là Tăng Dưỡng Giai, là một kĩ thuật viên, một thợ máy tốt nghiệp trường đại học Vũ Hán. Ông tin vào sự vĩ đại của khoa học nhưng không tin Đức Chúa Trời. Một người bạn khác tên Lưu, là tín đồ, bạn cùng phòng ông Tăng. Ông Lưu rao giảng phúc âm cho ông Tăng nhưng không có hiệu quả. Vì thế ông Lưu để lại một cuốn sách có tựa đề “Có Đức Chúa Trời không?” và dặn ông Tăng phải đọc cẩn thận. Vì tò mò, ông mãi mê nghiền ngẫm. Sau khi đọc xong, ông thấy rằng lập luận được trình bày dường như hợp lí. Ông quyết định thí nghiệm. Làm theo lời cầu nguyện được dạy trong sách, tối đó, ông Tăng đã cầu nguyện. Nhưng thật đáng tiếc, chưa cầu nguyện xong thì ông đã ngủ vì mệt. Tối hôm sau, ông thử lại và cầu nguyện như vầy: “Đức Chúa Trời ơi, Ngài toàn tri. Nếu Ngài có thật, xin bày tỏ chính Ngài cho con, và chắc chắn con sẽ tin Ngài!”. Sau khi thốt ra lời cầu nguyện này, sâu xa bên trong, dường như ông nghe một tiếng nói: “Giăng chương 18 câu 21”. Ông ngạc nhiên bởi kinh nghiệm đó và tự nhủ: “Có lẽ đây là một sự khải thị!” Rồi sau đó ông nghĩ: “Nếu không có chương 18 hay cầu 21 trong sách Giăng thì đây là một trò hề lớn”. Trong sự hoài nghi, ông thốt ra một lời cầu nguyện khác: “Ô Đức Chúa Trời! Nếu đây là sự khải thị, xin nói lại với con trang nào và dòng nào để con tìm câu này. Rồi con chắc chắn sẽ tin Ngài”. Trong trạng thái suy ngẫm sâu, dường như ông mơ thấy ông lấy cuốn Kinh Thánh và mở ra một trang nào đó, ở đó ông la lên: “Đây rồi!”

Nhưng lúc đó là mùa hè, ông Tăng đang ở văn phòng. Cuốn Kinh Thánh mà ông Lưu tặng lại không có ở đó. Sáng hôm sau, ông lấy cuốn Kinh Thánh và mở Giăng chương 18 câu 21, trong câu đó Chúa Jesus phán: “Vì sao con hỏi Ta? Hãy hỏi những kẻ từng nghe Ta, Ta nói chi với họ; kìa họ đều biết điều Ta đã nói”

Dường như Đức Chúa Trời đã nói chuyện với ông cách cá nhân qua câu Kinh Thánh bằng giọng khiển tránh! Với đôi tay run rẩy, ông quỳ xuống trong sự sợ hãi, và nói: “Ô Đức Chúa Trời, con tin Ngài” Điều đáng ngạc nhiên là trước đây ông Tăng chưa bao giờ đọc Kinh Thánh. Mặc dù ông Lưu đã tặng  ông cuốn Phúc Âm Giăng được Thánh Kinh Hội in, nhưng ông chưa bao giờ mở ra. Và vì thế, không có cách nào ông biết được câu Kinh Thánh đó chính xác nằm ở giữa trang phía bên phải! Thưa quý vị! Nếu không tin, quý vị hãy tự thí nghiệm để xem Đức Chúa Trời có thật sự hiện hữu không! Chúng ta có thể kể ra rất nhiều sự kiện như vậy. Đức Chúa Trời là Cha thiên thượng của chúng ta. Miễn là chúng ta chân thành tìm kiếm và nài xin Ngài, chắc chắn Ngài sẽ mở đường để quý vị và tôi tin Ngài.

CHƯƠNG 5

SỰ SỐNG CHỨNG MINH SỰ HIỆN HỮU

CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

Trong thế giới tự nhiên, chính sự sống là huyền nhiệm lớn nhất. Không ai có thể định nghĩa sự sống là gì. Nếu chôn một cục đá xuống đất, sau một thời gian dài, nó vẫn chết và không có dấu hiệu cử động nào hết. Nhưng nếu chôn một hạt đậu nhỏ xíu xuống đất, sau hai ba ngày, nó sẽ nảy mầm, lớn lên và nở hoa. Ai có thể hiểu điều này?

Khi một hạt lúa mì được gieo xuống đất và bắt đầu nảy mầm, thân mọc hướng lên và rễ mọc hướng xuống. Làm sao một hạt lúa mì biết rằng thân phải mọc hướng lên để đón nhận ánh sáng mặt trời và khí cac-bon, còn rễ phải mọc xuống dưới để hấp thụ nước và dưỡng chất của đất? Một hạt lúa không có tâm trí, nhưng có trật tự riêng của nó. Ai sắp xếp như vậy?

Con người đã làm một vài điều kì diệu. Con người đã làm máy bay trên trời; xe hơi dưới đất, tàu ngầm dưới đại dương, và vệ tinh trên không gian. Mọi thứ đều tinh vi, khéo léo. Kiến thức con người mở rộng mỗi ngày và đáng ngưỡng mộ. Tuy nhiên, nếu xem khoa học là điều vĩ đại nhất và thừa nhận cách ngạo mạn rằng quyết tâm của con người có thể chinh phục thiên nhiên, thì chúng ta ngu muội một cách kiêu căng và không biết giới hạn của mình.

Câu hỏi: Các khoa học gia có thể tạo ra được sự sống không?

Mọi thứ con người làm đều không có sự sống,không sống động. Con người có thể làm máy bay nhưng không thể tạo ra con muỗi; con người có thể làm xe hơi nhưng không thể tạo nên con kiến, làm tàu ngầm nhưng không thể tạo ra con tôm. Con người có thể sản xuất cái trứng trông giống như thật, nhưng không bao giờ nở ra gà con. Con người có thể sản xuất hạt giống nhưng khi gieo, không nảy mầm được, mà trái lại bị đất nuốt đi. Khoa học không thể tạo nên sự sống và cũng không thể thay đổi được sự sống. Khoa học không thể đổi con chó thành con mèo, hay còn mèo thành con gà. Thụ tinh trong ống nghiệm chỉ là truyền sự sống chứ không phải tạo ra sự sống. Cho đến nay khoa học vẫn không thể tạo được một tế bào, hay thậm chí một vật liệu thô của tế bào – phôi. Sự sống chỉ có thể được Đức Chúa Trời tạo ra. Do đó, chính sự sống chứng minh sự hiện hữu của Đức Chúa Trời.

La mã chương 1 câu 20 chép. “Vì những sự của Ngài mà mắt không thấy được, tức là quyền năng đời đời và thần tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế đã thấy rõ, nhờ các vật dựng nên mà nhận biết được; nên họ không thể nào chữa mình được” Những lời này rất thật. Nhìn thấy sự bao la của không gian và vô số các vì sao, người ta không thể không ngạc nhiên trước sự vĩ đại của Đấng Tạo Hóa. Dùng kính hiển vi để xem xét một giọt nước nhỏ và thấy hàng ngàn vi sinh vật đang chuyển động, người ta không thể không kinh ngạc trước công việc kì diệu của Đức Chúa Trời.

Sự sống không thể xuất hiện bởi xác suất

Trong cuốn sách “định mệnh của nhân loại”, tiến sĩ Dunai lí luận rằng vấn đề sự sống bắt đầu như thế nào không thể được quyết định bởi luật xác suất. Sự kết hợp ngẫu nhiên của các nguyên tử có xác suất rất, rất thấp trong việc tạo nên một phân tử phôi. Trái đất đã tồn tại 2 tỉ năm, một con số với chín “số 0” sau số “2”. Nhưng xác suất của việc tạo phôi từ sự kết hợp ngẫu nhiên của nguyên tử là một con số đòi hỏi 600 “số 0” sau số “2”! Hãy suy nghĩ xem: phôi chỉ là vật liệu của một tế bào sống mà thôi; thế thì chính sự sống lại còn hơn thế là dường nào?

Những điều kì diệu của sự sống

Sự sống là gì? Không ai biết. Sự sống không có trọng lượng, không chiều dài, không chiều sâu, không màu, không vị, nhưng nó có sức mạnh lớn lao. Rể của một cây đang lớn có thể xuyên qua đá. Sự sống có thể chinh phục nước, đất và không khí; có  thể phân chia vật chất và cũng có thế kết hợp chúng. Sự sống tạo nên mọi loài sống, thiết kế bản vẽ của mọi loại lá cây, và tô màu cho mọi loại hoa. Sự sống dạy chim trời hát khúc tình ca. Sự sống dạy côn trùng ngân nga hàng ngàn giai điệu và bản giao hưởng. Sự sống phú cho trái xây mùi vị khác nhau, và cho bông hoa có hương thơm khác nhau. Sự sống thực vật biến nước thành khí cac-bon thành đường và sợi, đồng thời thải ra o-xi cho sự tồn tại của động vật.

Mỗi loại sự sống có bộ gien riêng của nó; và mỗi gien được cấu tạo bởi hàng triệu nguyên tử đòi hỏi kính hiển vi có độ phân giải cao mới thấy được. Chỉ việc khám phá ra sự kiện này cũng bày tỏ rất nhiều về công việc kì diệu của Đấng Tạo Hóa. Nếu đặt tất cả các gien của mọi người trên đất lại với nhau, chúng vẫn không lớn hơn đầu cây kim! Nhưng những gien nhỏ xíu này mang đặc điểm của tổ tiên và duy trì đặc tính độc nhất của mỗi một cá thể. Ngoại trừ Đức Chúa Trời rất khôn ngoan, ai có thể thiết kế điều kì diệu như vậy?

Nhà sinh vật học Pasteur tin rằng mọi sinh vật đều có tổ tiên và bác bỏ điều cho rằng con đom đóm ra từ cỏ mục. Ông tin rằng phải có trứng đom đóm trong cỏ mục hơn là cỏ mục biến thành đom đóm! Trong một thí nghiệm, trước hết ông dùng hơi nước để giết ấu trùng và trứng trong cỏ mục; sau đó ông để riêng cỏ đó trong một thùng đậy nắp kín, để chứng tỏ rằng cỏ mục không trở thành đom đó. Sinh vật tự nhân giống từ thế hệ này đến thế hệ khác và không đột nhiên thay đổi thành một điều gì đó. Ngay cả một con cá nhỏ trong mương rãnh cũng có tổ tiên bằng tuổi A-dam, tổ tiên của con người! Như Kinh Thánh đã ghi lại, Đức Chúa Trời tạo nên mọi loại theo loại của chúng. Trong việc nghiên cứu nguồn gốc sinh vật, người ta không thể không thừa nhận rằng Đức Chúa Trời để sáng tạo mọi loài.

Sinh thái học của sự sống

Hãy xem xét nhiều đòi hỏi cần thiết cho sự tồn tại của sinh vật. Nhiệt độ phải thích hợp nếu không sinh vật sẽ bị đốt cháy hay đóng băng. Không có nước và mặt trời, sinh vật không thể sống. Nếu tốc độ quay của trái đất chậm xuống khoảng một trăm dặm một giờ thay vì một ngàn dằm một giờ, thì chu kì ngày và đêm sẽ tăng lên mười lần bình thường. Sức nóng của mặt trời ban ngày sẽ đốt cháy mọi loại thực vật, trong khi đêm dài sẽ làm những cành non đóng băng đến chết. Khoảng cách từ trái đất đến mặt trời là 93 triệu dặm, nơi phát ra nhiệt độ  12.000 độ F chiếu xuống trái đất. Nếu khoảng cách từ mặt trời đến trái đất gần hơn mười phần trăm thì độ nóng gia tăng của mặt trời sẽ đốt chết mọi sinh vật. Nếu khoảng cách từ mặt trời đến trái đất xa hơn một chút và mặt trời phát ra chỉ nửa sức nóng hiện tại, thì mọi sinh vật sẽ đóng băng đến chết. Hãy xem xét chuyển động của trái đất quanh mặt trời; trục trái đất chỉ nghiêng khoảng 23.5 độ, làm cho trái đất có mùa xuân, hạ, thu, đông. Không có độ nghiêng cần thiết sẽ không có bốn mùa; và hơi nước đại dương sẽ di chuyển tới cực Bắc và cực Nam, tạo ra vùng đất đóng băng hoang vắng rộng lớn.

Nếu khoảng cách mặt trăng đến trái đất chỉ 50.000 dặm thay vì 230.000 dặm, thì nước biển sẽ bị hút bởi lực hấp dẫn của mặt trăng; và trái đất với tất cả những núi cao sẽ bị nhận chìm dưới nước. Nếu vỏ trái đất dày hơn 3 mét, thì khí o-xy trong không khí sẽ dốc hết vào để tạo nên lớp vỏ ấp, lấy mất lượng khí cần thiết để sinh vật sống còn. Nếu biển sâu hơn 2.7 mét so với bình thường, thì nước biển sẽ hấp thụ khí cac-bon và o-xy trong không khí. Nếu tầng khí quyển mỏng hơn, thì hàng triệu sao băng đi vào khí quyển trái đất sẽ không nóng chảy, nhưng đập vào các thành phố trên thế giới, bốc cháy ở khắp nơi.

Kết luận. Mối quan hệ lẫn nhau của mặt trời, trái đất, và mặt trăng gắn chặt với sự tồn tại và sống còn của sinh vật. Nhiệt độ mặt trời không thể quá thấp hay quá cao. Khoảng cách giữa trái đất và mặt trời không thể quá gần hoặc quá xa. Vỏ trái đất không thể dày hơn; nước biển không thể sâu hơn. Trái đất cần xoay đúng tốc độ. Mặt trăng không thể quá gần hay quá xa trái đất. Quý vị có thể tự hỏi những mối tương quan phức tạp này diễn ra chỉ để đáp ứng nhu cầu của mọi sinh vật thôi sao. Với vô số sự thay đổi diễn ra trong hệ thống động lực này, sinh vật không thể sống sót ngay cả với một sự dao động nhỏ nhất. Mạng lưới phức tạp của các mối tương quan này có thể xuất hiện ngẫu nhiên không? Nếu chỉ một hay vài sự cố xảy ra, chúng ta có thể tin điều đó là có thể. Nhưng cho rằng mọi điều chỉ là trùng khớp ngẫu nhiên thì có hợp lí không? Hãy thử để một đồng xu trong túi, và rồi lấy nó ra khỏi túi. Hãy làm nhiều lần. Trong một số lần, quý vị có thể luôn thấy mặt phải. Nhưng nếu làm một trăm lần, chắc chắn quý vị sẽ thấy mặt trái một nửa số lần, và một nửa số lần sẽ thấy mặt phải. Hệ sinh thái mà sinh vật đang sống trong đó không thể là ngẫu nhiên; quý vị phải thừa nhận rằng Đức Chúa Trời là căn nguyên của tất cả những điều này.

Trương Úc Lam - Đài Loan

 
CHƯƠNG 6-13

http://songdaoonline.com/e4233-nhung-cau-chuyen-phuc-am.html